Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn. Chương 2: Đề xuất một số biện pháp dạy học truyện ngắn của nhà văn Nam Cao trong chương trình Ngữ văn 11 theo định hướng phát triển năng lực văn học cho học sinh. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. Đóng góp của luận văn Về mặt lí luận, luận văn của chúng tôi sẽ mô tả và hệ thống hoá các cơ sở lí luận và thực tiễn nhằm phát triển năng lực văn học cho học sinh thông qua dạy học một số tác phẩm truyện ngắn của Nam Cao trong chương trình Ngữ văn 11.
Bên cạnh đó cũng góp phần hoàn thiện và bổ sung nội dung về lí luận dạy học về truyện ngắn nói chung, truyện ngắn của Nam Cao nói riêng. Về mặt thực tiễn, luận văn có thể coi như một tài liệu tham khảo giúp giáo viên nhận thức đúng đắn, sâu sắc tinh thần đổi mới trong giáo dục ở trường phổ thông qua dạy học theo định hướng phát triển năng lực. Đồng thời, luận văn sẽ cụ thể hoá việc phát triển năng lực văn học trong dạy học các tác phẩm của nhà văn Nam Cao ở chương trình Ngữ văn 11 thông qua các biện pháp cụ thể và có tính khả thi. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Năng lực và năng lực văn học 1. Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực có nguồn gốc tiếng Latinh “Competentia”, có nghĩa là gặp gỡ. Ngày nay, có rất nhiều các cách hiểu khác nhau về năng lực: “Năng lực gồm những kĩ năng, kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sẵn sàng về động cơ, xã hội…và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [13,tr. “Năng lực là biết sử dụng các kiến thức và kĩ năng trong một tình huống có ý nghĩa” (Rogiers, 1996) [13,tr.
Chương trình giáo dục trung học bang Québec, Canada năm 2004 xem năng lực là:“một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực” [5,tr. Có thể nhận thấy, hầu hết các tác giả, tài liệu nước ngoài đều quy năng lực vào phạm trù khả năng. Trong tiếng anh có các tên gọi như ability, capacity, possibiliti…còn ở Việt Nam, một số tác giả, tài liệu nghiên cứu lại xếp năng lực vào phạm trù hoạt động, đặc điểm, phẩm chất, hoặc thuộc tính. Cách hiểu trong Từ điển tiếng Việt, năng lực có nghĩa là:a) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; b) Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao [45,tr.
Tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng: “năng lực là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [33, tr. Từ những định nghĩa đã nêu về năng lực có thể hiểu: “năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, …thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [15,tr. Năng lực văn học (Năng lực chuyên môn) Trước khi chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn mới (2018) được ban hành, năng lực văn học là khái niệm mà một số tác giả, một số tài liệu nghiên cứu đã định hình nhưng gọi với tên gọi khác: Ví dụ như Phan Trọng Luận trong cuốn Phương pháp dạy học văn tập 1 [40] gọi là năng lực văn và chia năng lực văn thành năng lực tiếp nhận tác phẩm văn học, năng lực sáng tác văn, năng lực nghiên cứu phê bình văn học. Trong cuốn Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo [12], cuốn Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở phổ thông [64] của tác giả Lê Đình Trung gọi là năng lực thẩm mĩ trong đó hiểu năng lực thẩm mĩ là khả năng nhận biết cái đẹp, phân tích đánh giá được cái đẹp, tái hiện tạo ra cái đẹp và sống nhân ái, nhân văn.
Ở đề tài này, chúng tôi bám sát Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn mới (2018), nhằm đảm bảo tính chuẩn mực, pháp quy. Theo đó, năng lực văn học được hiểu là “một biểu hiện của năng lực thẩm mĩ, là khả năng nhận biết, phân tích, tái hiện và sáng tạo các yếu tố thẩm mĩ thông qua hoạt động tiếp nhận và tạo lập văn bản văn học” [14, tr. Vì thời gian và khuôn khổ có hạn nên trong luận văn, chúng tôi chủ yếu tập trung đi sâu và chú trọng vào vấn đề phát triển năng lực văn học ở phương diện tiếp nhận văn bản. Yêu cầu cần đạt về năng lực văn học trong dạy học Ngữ văn cấp trung học phổ thông Trong dạy học Ngữ văn ở cấp THPT yêu cầu cần đạt về năng lực HS là: “Phân tích và đánh giá văn bản văn học dựa trên những hiểu biết về phong cách nghệ thuật và lịch sử văn học.
Nhận biết được đặc trưng của hình tượng văn học và một số điểm khác biệt giữa hình tượng văn học với các loại hình tượng nghệ thuật khác (hội hoạ, âm nhạc, kiến trúc, điêu khắc); phân tích và đánh giá được nội dung tư tưởng và cách thể hiện nội dung tư tưởng trong một văn bản văn học; nhận biết và phân tích được đặc điểm của ngôn ngữ văn học, câu chuyện, cốt truyện và cách kể chuyện; nhận biết và phân tích được một số đặc điểm phong cách nghệ 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuật trong văn học dân gian, trung đại và hiện đại; phong cách nghệ thuật của một số tác giả, tác phẩm lớn. Nêu được những nét tổng quát về lịch sử văn học dân tộc (quá trình phát triển, các đề tài và chủ đề lớn, các tác giả, tác phẩm lớn; một số giá trị nội dung và hình thức của văn học dân tộc) và vận dụng vào việc đọc tác phẩm văn học. Tạo lập được một số kiểu văn bản văn học thể hiện khả năng biểu đạt cảm xúc và ý tưởng bằng hình thức ngôn từ mang tính thẩm mĩ”[14, tr. Đây là một trong những cơ sở quan trọng để khi dạy học theo định hướng phát triển năng lực văn học cho HS, GV có thể lấy làm căn cứ đối chiếu.
Yêu cầu cần đạt trong dạy học văn bản văn học cho học sinh ở chương trình Ngữ văn 11 Trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn (2018), cấp trung học phổ thông đề ra yêu cầu cần đạt về năng lực của HS lớp 11 khi học văn bản văn học (trong đó có năng lực văn học) là: Về đọc hiểu nội dung cần: “Phân tích được các chi tiết tiêu biểu, đề tài, câu chuyện, sự kiện, nhân vật và mối quan hệ của chúng trong tính chỉnh thể của tác phẩm; nhận xét được những chi tiết quan trọng trong việc thể hiện nội dung văn bản. Phân tích đánh giá được chủ đề, tư tưởng, thông điệp mà văn bản muốn hướng đến người đọc thông qua hình thức nghệ thuật của văn bản, phân biệt được chủ đề chính và chủ đề phụ trong một văn bản có nhiều chủ đề. Phân tích và đánh giá được tình cảm, cảm xúc, cảm hứng chủ đạo của người viết được thể hiện qua văn bản, phát hiện được những các giá trị văn hóa, triết lí nhân sinh từ văn bản" [14, tr. Về đọc hiểu nghệ thuật : “Nhận biết và phân tích được một số đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ văn học; Phân tích được tính đa nghĩa của ngôn từ trong tác phẩm văn học; Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của truyện ngắn hiện đại như: không gian, thời gian, câu chuyện, nhân vật, người kể chuyện ngôi thứ 3 và người kể chuyện ngôi thứ nhất, sự thay đổi điểm nhìn, sự nối kết giữa lời người kể chuyện, lời nhân vật”…[14,tr.
Ví dụ: trong chương trình Ngữ văn 11 có các truyện ngắn lãng mạn 1930-1945: Hai đứa trẻ-Thạch Lam, Chữ người tử tù-Nguyễn Tuân. Khi dạy học các tác phẩm này, 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com GV cần giúp HS phát triển được năng lực văn học thông qua các yêu cầu cần đạt như sau: HS đọc hiểu được về nội dung phân tích được các chi tiết tiêu biểu, đề tài câu chuyện, sự việc, nhân vật, nhận xét được những chi tiết quan trọng trong việc thể hiện nội dung tác phẩm Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù. Phân tích đánh giá được chủ đề, tư tưởng, thông điệp mà nhà văn Thạch Lam và Nguyễn Tuân muốn gửi gắm thông qua hình thức nghệ thuật của văn bản. Phân tích đánh giá được tình cảm, cảm xúc, cảm hứng chủ đạo của hai tác giả, các giá trị văn hóa, triết lí được gửi gắm qua hai tác phẩm Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù.HS đọc hiểu được hình thức nghệ thuật của hai tác phẩm thông qua việc nhận biết và phân tích được một số yếu tố như không gian, thời gian, câu chuyện, nhân vật, người kể chuyện ngôi thứ ba/ ngôi thứ nhất…Việc phát triển năng lực văn học luôn song hành với phát triển năng lực ngôn ngữ.
Vì vậy, những lưu ý thêm về năng lực ngôn ngữ cần đạt qua hai tác phẩm Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù là: HS biết vận dụng các kiến thức tiếng Việt trong bối cảnh lịch sử xã hội, tư tưởng, quan niệm thẩm mĩ của thời kì văn học 1930-1945 để hiểu đọc hiểu hai văn bản Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù. Biết phân tích đánh giá nội dung, đặc điểm hình thức biểu đạt của hai văn bản nhất là những tìm tòi sáng tạo về ngôn ngữ, cách viết mang phong cách riêng của tác giả Thạch Lam và Nguyễn Tuân. Viết được văn bản nghị luận, thể hiện được cảm xúc thái độ và những trải nghiệm, ý tưởng cá nhân từ những vấn đề đặt ra trong hai văn bản; thể hiện được cách nhìn, cách nghĩ, cách sống mang đậm cá tính. Về liên hệ, so sánh, kết nối, HS cần: “So sánh được hai văn bản văn học viết cùng đề tài ở các giai đoạn khác nhau, liên tưởng mở rộng vấn đề để hiểu sâu hơn văn bản được đọc; Vận dụng được kinh nghiệm đọc, trải nghiệm về cuộc sống và hiểu biết về lịch sử văn học Việt Nam để nhận xét, đánh giá văn bản văn học.