Mở đầu là tài – mệnh: “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau” và kết thúc với sự trăn trở về tâm – tài: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Ta thấy Truyện Kiều không chỉ là câu chuyện về tài mệnh tương đố mà còn là câu chuyện về chữ tâm, về mối quan hệ giữa tài và tâm. Mượn cốt truyện của tiểu thuyết tài tử giai nhân, Truyện Kiều có nhiều người tài nhưng tác giả cũng đề cao chữ tâm, tấm lòng. Chữ tài và chữ tâm là một nguyên tắc ứng xử có tính phổ quát trong truyện.
Tài ở đây là biểu hiện của phẩm chất nhân vật và cá tính đóng vai trò là cái cớ để nhân vật bị cuốn vào tai vạ cho phù hợp với tư tưởng tài mệnh tương đố còn chữ tâm đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong cốt truyện, thúc đẩy sự kiện phát triển. Toàn bộ sáng tạo của Nguyễn Du chủ yếu là làm cho chữ tâm của nhân vật chính được bộc lộ trọn vẹn và sâu sắc. Bên cạnh đó, chữ thân cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bộc lộ tư tưởng của tác giả. Nhân vật chính luôn có ý thức về thân, về phần cá nhân riêng tư nhất, thực tại nhất của con người và tác phẩm được xây dựng sao cho nhân vật tự cảm thấy được cái thân đau đớn, ê chề, nhục nhã của mình.
Chữ thân là tư tưởng 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phổ quát nhất và nó làm Truyện Kiều tuột khỏi mệnh đề tài mệnh tương đố để chuyển sang mệnh đề con người nói chung. Tài mệnh tương đố là trường hợp riêng của thân mệnh mà muốn vượt lên con người chỉ có thể dựa vào chữ tâm. Như vậy, chủ đề cơ bản của Truyện Kiều là thân mệnh tương đố. Sáng tạo Truyện Kiều nghĩa là phải nhào nặn lại Kim Vân Kiều truyện để thể hiện một tư tưởng mới.
Để làm điều đó, Nguyễn Du có quan niệm mới về nhân vật và cách kể. Nhân vật vay mượn có thể được miêu tả theo những trọng tâm, điểm nhấn khác và trở thành nhân vật khác, cốt truyện được vay mượn nhưng kể theo cách khác cũng tạo thành truyện khác. Vay mượn hệ thống nhân vật và sự kiện của Kim Vân Kiều truyện, Nguyễn Du không tránh khỏi tiếp thu các thi pháp vốn có của văn học Trung Quốc nhưng ông không chạy theo và phát huy các thi pháp ấy mà sáng tạo lại. Nguyễn Du không đặt trọng tâm ở việc, ông tước bỏ các chi tiết, biến con người đạo lí thành con người tâm lí dẫn tới việc ông thay đổi điểm nhìn trần thuật, kể theo cái nhìn và tâm trạng nhân vật.
Ông khai thác cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ở phương diện tâm lí, biến nó thành cốt truyện tâm lí bằng việc đổi mới hình tượng người kể chuyện. Người kể chuyện Truyện Kiều đồng thời là một nhà thơ trữ tình. Do thay đổi trọng tâm trần thuật sang thế giới tấm lòng của nhân vật chứ không phải sự kiện bên ngoài nên ông đã huy động tối đa các thủ pháp trữ tình để miêu tả tình cảm nhân vật; lời trần thuật là lời mang chất thơ hòa vào lời nhân vật tạo thành lời nửa trực tiếp khiến người đọc thâm nhập vào tâm hồn nhân vật bằng sự chỉ dẫn của người kể chuyện. Về hình thức tự sự trong Truyện Kiều, mặc dù sử dụng một cốt truyện nổi tiếng của Thanh Tâm Tài Nhân nhưng Nguyễn Du đã sáng tạo một phương pháp tự sự mới chưa từng có đối với tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc, cũng chưa từng có đối trong truyện Nôm.
Nguyễn Du đưa lời kể vào lăng kính cảm nhận của nhân vật, làm cho lời kể thấm đẫm cảm xúc và hướng tới sự phát hiện nội tâm nhân vật, và mặt khác, chuyển lời bình luận mang sắc tính suy lí quan phương của Thanh Tâm Tài Nhân thành lời cảm thán đầy sức mạnh tình cảm. * Cái nhìn nghệ thuật về con người 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, cái nhìn nghệ thuật bao gồm nhiều bình diện: bình diện xã hội, bình diện cá nhân, bình diện văn hóa khu vực và bình diện tính dân tộc. Gắn với các truyền thống nghệ thuật phương Đông, con người trong Truyện Kiều được xây dựng theo mô hình “con người vũ trụ” (miêu tả chân dung Kiều: thu thủy, xuân sơn; chân dung Từ Hải: râu hùm, hàm én, mày ngài;…) dẫn tới quan niệm về tướng số. Cùng với đó là thái độ tôn xưng đối với loại người tài tình được khắc họa với những đường nét bề ngoài đầy ước lệ.
Nhìn sâu hơn, tác giả còn cảm nhận con người theo một nhãn quan rất dân tộc qua cảm quan cây trái hoa lá của dân tộc nông nghiệp lâu đời phủ lên nhân vật, các từ hoa, cành, lá, cây xuất hiện rất nhiều trong tác phẩm. Một nét khác tiêu biểu cho truyền thống nghệ thuật mà Nguyễn Du tiếp thu là quan niệm con ngưởi tỏ lòng, con người được xem là sự thể hiện của các giá trị tinh thần bất diệt như chí, tình, đạo, nghĩa. Con người chủ yếu được miêu tả trong chừng mực bộc lộ các phẩm chất đạo đức và được thể hiện qua nguyên tắc tỏ lòng. Nguyễn Du cũng đã sáng tạo khi chuyển cảm hứng từ tỏ lòng sang thế giới tấm lòng với nghĩa mới là một hiện tượng tâm lí chứ không phải là nghĩa lí làm mở ra tất cả sự phong phú trong chiều sâu của đời sống thực tại.
Gắn liền với sự đổi mới về quan niệm con người là khoảng cách gần gũi, thậm chí đồng nhất của người kể đối với các nhân vật được miêu tả. Về hình thức, Truyện Kiều không phải là truyện đương thời nhưng tác giả đã lí giải như một câu chuyện của mình. Điều này trước hết được thể hiện ở hệ thống các lời bình luận trữ tình của tác giả, mỗi lời như tiếng nói từ tận đáy lòng người trong cuộc: “Đau đớn thay, phận đàn bà; Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”, “Một cơn mưa gió nặng nề; Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương”. Người trần thuật trong Truyện Kiều thuộc loại người biết hết và biết trước mọi chuyện nhưng lại ít khi thông báo những cái biết trước và có sẵn trong ý định của mình.
Mọi vật trong truyện đều hiện ra dần dần qua cảm giác, suy đoán của con người như những phát hiện lần đầu trong cuộc sống: “Trông chường thấy một văn nhân”; “Bóng hồng nhác thấy nẻo xa”; “Dưới đào dường có bóng người thướt tha”… Như vậy, nhân vật 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Truyện Kiều, và qua đó là người trần thuật luôn thấy, cảm, nghĩ một cách hiện thực, luôn luôn tính tới quy luật phát triển tuần tự của đời sống. Một phương diện khác rất quan trọng trong thi pháp Truyện Kiều là cái nhìn nghệ thuật nhiều chiều đối với các hiện tượng đời sống được miêu tả. Tác giả khéo bố trí sao cho phần lớn các sự kiện trong đời Kiều được nhìn nhận và bình luận từ các góc độ khác nhau. Trong nhiều trường hợp như việc Kiều bán mình chuộc cha, chuyện nhờ Vân trả nghĩa, chuyện Kiều đi tu…; các quan điểm chuẩn mực, duy lí đối chiều sóng đôi với quan điểm cá nhân chẳng những không cho phép lí giải các sự kiện của truyện như một hiện tượng đơn nghĩa mà còn mở ra một chiều sâu cuộc sống mà phần lớn các truyện Nôm khác chưa biết đến.
Cách cảm nhận chủ quan của nhà thơ là thái độ hàm chứa rất nhiều bình diện giá trị khác loại của đời sống, thể hiện đặc điểm của nhà văn lớn và luôn nhìn sự vật trong một phạm vi giá trị rộng lớn, đa dạng và gần gũi với con người, khắc hẳn cái nhìn hạn hẹp một chiều mang tính chất giáo huấn. *Không gian nghệ thuật của Truyện Kiều Truyện Kiều của Nguyễn Du là một tiểu thuyết lưu lạc nên có sự xuất hiện của nhiều không gian xa lạ. Sau mỗi biến cố, nhân vật lại bị đẩy vào một không gian mới nhiều hiểm họa. Trong mười lăm năm, Kiều lưu lạc qua rất nhiều địa điểm không gian.
Mỗi địa danh tạo nên không gian lưu lạc mênh mông, mịt mù, một không gian Trung Quốc xa lạ và xa xôi. Đối với con người trung đại, gia đình, nguồn cội, quê hương là những cái đảm bảo cho sự yên ổn, giá trị mà một khi rời bỏ thì con người trở nên yếu đuối, trống rỗng như tự đánh mất mình. Không gian sống của con người chia làm hai nửa: quê mình và quê người; quê người là không gian xa lạ, đau khổ, bơ vơ cho bất cứ ai. Quê người cũng được cảm nhận như là nơi cách trở, nơi phân chia quê mình và quê người, là nơi biên ải xa lạ.
Địa bàn trong Truyện Kiều rõ ràng là không phải nơi biên ải nhưng cảm quan biên ải dường như luôn luôn thường trực trong tâm hồn nhân vật chính. Trong Truyện Kiều, motip “mặt nước cánh bèo”, “quê người đất khách”, “chân trời góc bể”, “ải quan” là những mẫu gốc không gian được kết đọng trong kinh nghiệm lâu đời, dễ gây xúc động về thân phận cô đơn, bé nhỏ của con người trước không gian bao la, cách trở. 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong không gian lưu lạc, chí hướng của con người là hướng về quê cũ, nhớ về nguồn cội: “Trông vời cố quốc biết đâu là nhà”, “Đoái thương muôn dặm tử phần; Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa”, “Tấc lòng cố quốc tha hương; Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời”… Không gian lưu lạc càng cho thấy rõ Kiều là con người của gia đình, Kiều nhớ nhà là nhớ tới những người thân trong tinh thần nghĩa vụ và xót thương thân phận lạc loài. trong đó có cảm nhận về số phận luân lạc của những kẻ tài hoa bạc mệnh, trâm gãy bình tan, hoa trôi hoa rụng.
Chính không gian nội cảm trên làm người đọc quên đi câu chuyện đang xảy ra ở một không gian xa lạ của Trung Quốc mà nhập thân sống với nhân vật. *Thời gian nghệ thuật của Truyện Kiều Cũng như thời gian trong thế giới khách quan, thời gian nghệ thuật là tập hợp của nhiều thời gian cá biệt. Đến với thời gian cuộc đời, Nguyễn Du không bỏ qua thời gian định mệnh vốn có vai trò chi phối mạnh trong thế giới quan đương thời. Truyện Kiều là thể hiện rõ nhất cho tư tưởng định mệnh với thời gian định mệnh là tất cả mọi sự kiện, chuyển biến của đời người được định sẵn từ trước như một tất yếu khắc nghiệt.
Nó tạo một tương lai mơ hồ, gợi sự chờ đợi phấp phỏng cho nhân vật.