chương 1, điều 5 đã nêu: Mô đun là một đơn vị học tập được tích hợp giữa kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và thái độ nghề nghiệp một cách hoàn chỉnh nhằm giúp cho người học nghề có năng lực thực hành trọn vẹn một công việc của một nghề. Mô đun đào tạo là một đơn vị học tập tích hợp tất cả các thành phần kiến thức liên quan trong các môn lý thuyết với các kỹ năng để hình thành năng lực thực hiện. Như vậy, DH các mô đun thực chất là DH tích hợp nội dung để nhằm hướng đến các mục đích sau: [4, 26] - Định hướng vấn đề cần giải quyết - năng lực thực hiện công việc. - Định hướng cuộc sống thật, hoạt động nghề nghiệp thật, giải quyết những vấn đề liên quan đến cuộc sống và nghề nghiệp.
- Phát triển năng lực thực hiện ở học sinh - Giảm được sự trùng lắp kiến thức, kỹ năng giữa các môn học. Năng lực và năng lực thực hiện 1. Năng lực Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như kiến thức- kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm. Năng lực gắn liền với khả năng hành động; Năng lực hành động là một loại năng lực, nhưng khi nói phát triển năng lực người ta cũng hiểu đồng thời là phát triển năng lực hành động hay năng lực thực hiện.
Vì vậy, trong lĩnh vực sư phạm nghề năng lực còn được hiểu là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động [6, 43]. Năng lực thực hiện (NLTH) Thuật ngữ năng lực thực hiện được dịch từ tiếng anh của từ “competency”.Bunk: “năng lực thực hiện là kiến thức, kỹ năng và khả năng mà người lao động cần có để hành nghề” [8].Sullivan, định nghĩa “năng lực thực hiện là kỹ năng được hình thành theo những tiêu chuẩn cụ thể dưới những điều kiện cụ thể” [9]. Đỗ Mạnh Cường: “năng lực thực hiện là khả năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt ra” Năng lực thực hiện (NLTH) được coi như là sự tích hợp của kiến thức - kỹ năng - thái độ tạo thành khả năng thực hiện một công việc sản xuất và được thể hiện trong thực tiễn sản xuất. Không chỉ là kỹ năng tâm vận động hay là kỹ năng lao động chân tay mà kỹ năng trí tuệ cũng là thành phần kỹ năng tạo nên năng lực thực hiện.
Chẳng hạn kỹ năng nhận biết, kỹ năng phán đoán, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết định. Tùy theo loại năng lực cần hình thành mà các thành phần kỹ năng được nhận diện có thể khác nhau. Các thành tố cấu thành năng lực thực hiện như sau: 11 NĂNG LỰC THỰC HIỆN Hình 1. Các thành tố cấu thành năng lực thực hiện [7, 5].
Trong năng lực thực hiện, người ta cũng phân biệt 4 loại kỹ năng chủ yếu sau: - Kỹ năng thực hiện công việc cụ thể, riêng biệt - Kỹ năng quản lý các công việc - Kỹ năng quản lý các sự cố - Kỹ năng hoạt động trong môi trường làm việc. Khi nói đến năng lực thực hiện, R.Tippelt nhà sư phạm đào tạo nghề ở Đức, dùng thuật ngữ tương đương là năng lực thực hiện hoạt động chuyên môn (Professional Action Competency). Năng lực này được coi là tích hợp của 4 loại năng lực sau: Năng lực cá nhân (Individual competency) - năng lực chuyên môn/kỹ thuật (Professional/Technical competency) - năng lực phương pháp (Methodical competency) và năng lực xã hội (Social competency) như hình bên dưới. Nặng lực cá nhân Năng lực chuyên môn Năng lực xã hội Năng lực phương pháp Năng lực hoạt động chuyên môn Hình 1.
Các thành phần cấu trúc của năng lực chuyên môn [7, 6]. 12 Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Trong đó bao gồm cả khả năng tư duy lôgic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình. Năng lực chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp là năng lực “nội dung chuyên môn” theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực phương pháp chuyên môn.
Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác.
Năng lực cá nhân (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu cá nhân, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các ứng xử và hành vi. Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau. Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại năng lực khác nhau. Ví dụ năng lực của GV bao gồm những nhóm cơ bản sau: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực chẩn đoán và tư vấn, năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học.
Như vậy, từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển NL chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, NL xã hội và NL cá thể. Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ. Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này. Tích hợp và dạy học tích hợp 1.
Trong từ điển giáo dục học thì tích hợp là “hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy” [24, 383]. Cũng theo các tác giả của từ điển này thì có hai kiểu tích hợp là tích hợp dọc và tích hợp ngang. Tích hợp dọc là “loại tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau” [24, 384 - 385]. Tích hợp ngang là “tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau” xung quanh một chủ đề.
Từ định nghĩa trên, một số nhà giáo dục đưa ra các nội dung tích hợp như: tích hợp bộ môn, tích hợp chương trình, tích hợp giảng dạy, tích hợp học tập, tích hợp kiến thức và tích hợp kỹ năng. Theo Dương Tiến Sỹ: Tích hợp là “sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức (khái niệm) thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối quan hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó” [16, 27]. Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” một từ gốc Latin (integer) có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể”. Có nghĩa là sự phối hợp các hoạt động khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy [Western Dictionary].
Như vậy, trong dạy học, tích hợp có thể được coi là sự liên kết các đối tượng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo sự thống nhất, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học tốt nhất. Dạy học tích hợp (Integrated Teaching/Instruction) Đối với giáo viên dạy nghề, những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, hướng dẫn cho sinh viên, thì câu hỏi quan trọng đầu tiên cần làm rõ là “dạy học tích hợp là gì”?. Dạy học tích hợp có phải (như nhiều người đang hiểu) là sự kết hợp giữa dạy lý thuyết và dạy thực hành không ?. 14 Theo Xaviers Roegirs: “Dạy học tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh nhằm phục vụ cho quá trình học tập tương lai, hoặc hoà nhập học sinh vào cuộc sống lao động” [22, 24].
Như vậy, theo quan điểm của Xavier Roegier, năng lực là cơ sở của khoa học tích hợp, gắn học đi với hành. Theo Nguyễn Văn Khải từ góc độ lý luận dạy học “Dạy học tích hợp tạo ra các tình huống liên kết tri thức các môn học, đó là cơ hội phát triển các năng lực của học sinh. Khi xây dựng các tình huống vận dụng kiến thức, học sinh sẽ phát huy được năng lực tự lực, phát triển tư duy sáng tạo” [13]. Các định nghĩa trên nêu rõ mục đích của dạy học tích hợp là hình thành và phát triển năng lực của người học, đồng thời các định nghĩa cũng nêu rõ, các thành phần tham gia tích hợp là loại tri thức hoặc các thành tố của quá trình dạy học.
Như vậy, có thể định nghĩa dạy học tích hợp là “quá trình dạy học mà ở đó các thành phần năng lực được tích hợp với nhau trên cơ sở các tình huống cụ thể trong đời sống để hình thành năng lực của người học”. Hiện nay, dạy nghề ở Việt Nam đang phát triển chương trình và tổ chức hệ thống đào tạo nghề dựa trên tiếp cận năng lực thực hiện (Competency - based training approach) trong đó, năng lực thực hiện được coi như sự tích hợp của ba thành phần kiến thức - kỹ năng - thái độ nghề nghiệp. Do vậy, từ góc độ tích hợp dọc, trong tình huống cụ thể của lĩnh vực đào tạo nghề hiện nay, có thể coi dạy học tích hợp là quá trình dạy học mà ở đó các nội dung, hoạt động dạy kiến thức, kỹ năng, thái độ được tích hợp với nhau trong cùng một nội dung và hoạt động dạy học để hình thành và phát triển năng lực thực hiện hoạt động nghề nghiệp cho người học.