CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan nghiên cứu về dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Militsa Nechkina, thành viên của Học viện Khoa học Sư phạm Liên Xô, lần đầu tiên đề xuất mô hình lớp học đảo ngược vào năm 1984. Trong những năm 1980 và 1990, các giáo viên ở Nga đã thử chiến lược giảng dạy này.hãy để học sinh rút ra những điều mới từ việc tự đọc sách giáo khoa đã được tạo ra cho phù hợp.
Cho phép họ xem xét nó, sau đó thảo luận với giáo viên của họ ở trường và đi đến một kết luận thống nhất”. Nechkina đã viết về lớp học đảo ngược [26]. Vào mùa đông năm 1993, tác giả Alison King xuất bản cuốn “From sage “ on the stage to guide on the side” (tạm hiểu: từ nhà thông thái trên các tượng đài thành người đồng hành bên cạnh bạn), trong đó tập trung vào việc giáo viên cần sử dụng thời gian tại lớp để tổ chức cho học sinh tìm hiểu ý nghĩa của bài học hơn là truyền đạt thông tin [22]. Mặc dù chưa đưa ra minh họa trực tiếp về khái niệm lớp học đảo ngược nhưng công trình của King thường được các nhà giáo dục trích dẫn như là sự thúc đẩy và cách tân cho phép dành không gian lớp học vào các hoạt động học tập tích cực.
Những năm 20 của thế kỉ XX, Giáo sư Eric Mazur của Harvard đã đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển các khái niệm, phương pháp hướng dẫn học tập theo cặp [20]. Ông thấy rằng việc ứng dụng, hỗ trợ của máy tính trong giảng dạy giúp người học chủ động tiếp cận kiến thức, không chỉ là GV diễn thuyết trên bục giảng theo cách truyền thống [18]. Đến năm 2000, các tác giả Lage, Platt và Treglia xuất bản bài báo có tựa đề “Inverting the Classroom: A Gateway to Creating an Inclusive Learning Environment” (Đảo ngược lớp học - cánh cửa dẫn đến sự sáng tạo môi trường học tập trọn vẹn), trong đó giới thiệu các nghiên cứu về lớp học đảo ngược tại các trường đại học, cơ sở giáo dục [24]. Họ khẳng định có thể tận dụng được thời 6 gian trong lớp học nếu chuyển các thông tin bài học cơ bản sang các phương tiện công nghệ khác như máy tính, đĩa cát-sét ghi hình cho sinh viên học tập tại nhà.
Mô hình lớp học đảo ngược được phát triển mạnh từ những năm 2000 đến nay tại Mỹ. Giáo viên là người đưa các bài giảng, tài liệu học tập, bài tập để người học chủ động tự học, tự nghiên cứu và làm trước ở nhà. Sau đó, khi đến lớp sẽ có thời gian để giáo viên và cả lớp cùng thảo luận chuyên sâu. Thông qua mô hình dạy-học này, giáo viên có nhiều thời gian để giúp người học học tốt hơn.
Người có công lớn cho mô hình lớp học đảo ngược được kể đến là Salman Khan. Năm 2004, Khan bắt đầu quay video theo yêu cầu của một người em họ, các bài học được ghi lại sẽ cho phép người học bỏ qua các phân đoạn đã thành thạo và phát lại những phần còn gặp khó khăn [19]. Những video này được đưa lên YouTube và được rất nhiều người yêu thích. Từ đó Salman Khan thành lập học viện Khan, cho đến nay đã có trên 2000 video bao gồm tất cả các môn học, từ những kiến thức đơn giản nhất như thực hiện phép toán số học của tiểu học đến các bài giải tích vector trong chương trình đại học [29] [30].
Theo thống kê mỗi tháng có một triệu người học dùng trang web của Khan, với số lượt xem khoảng 100 đến 200. Các giáo viên hóa học của trường trung học Woodland Park, Jonathan Bergmann và Aaron Sams, bắt đầu thực hành dạy theo mô hình lớp học đảo ngược ở cấp trung học. Vào năm 2007, họ ghi lại các bài giảng của mình và đăng lên mạng để hỗ trợ những HS bỏ lỡ các buổi học, để theo kịp chương trình [17]. Họ thông qua học viện Khan (Khan Academy) lần đầu tiên thực hiện mô hình lớp học đảo ngược, cung cấp những video bài giảng có nội dung lẽ ra được giảng tại lớp cho HS tiếp cận xem tại nhà, còn trực tiếp lớp họ cho HS thảo luận và mở rộng kiến thức.
Qua đó họ đã xây dựng mô hình lớp học đảo ngược, làm thay đổi hoàn toàn cách dạy của GV, cách học của HS. Sau đó mô hình lớp học đảo ngược đã phát triển và lan rộng trên toàn nước Mỹ và các nước có nền giáo dục phát triển như Úc, các nước châu Âu. 7 Năm 2011, trường trung học Clintondale ở Michigan đã áp dụng mô hình lớp học đảo ngược cho tất cả các lớp học. Hiệu trưởng Greg Green đã nỗ lực giúp GV phát triển kế hoạch cho các lớp học đảo ngược và làm việc với giáo viên môn xã hội, Andy Scheel, để tổ chức hai lớp học với tài liệu và bài tập giống hệt nhau, một lớp đảo ngược và một lớp thông thường [28].
Lớp học đảo ngược có nhiều HS đã từng trượt, một số trượt nhiều lần. Sau 20 tuần, HS trong FC thể hiện tốt hơn HS trong lớp học truyền thống. Hơn nữa, không có HS nào trong các lớp học đảo ngược đạt điểm thấp hơn C+, trong khi 13% học kỳ trước đã trượt. Lớp học truyền thống không có gì thay đổi [21].
Trước đó, Clintondale đã được xếp vào danh sách 5% tồi tệ nhất của bang. Năm tiếp theo khi GV sử dụng mô hình đảo ngược ở lớp 9, tỷ lệ trượt trong các môn tiếng Anh, toán, khoa học và xã hội đã giảm đáng kể, với tỷ lệ trượt của trường hiện đã đảo ngược giảm từ 30% xuống 10% vào năm 2011. Kết quả về tiêu chuẩn hóa các bài kiểm tra đã tăng lên vào năm 2012, nhưng sau đó đã giảm xuống [21]. Theo một cuộc khảo sát do Sophia Learning và Flipped Learning Network tiến hành tháng 5/2014, số lượng giáo viên áp dụng mô hình lớp học đảo ngược trong giảng dạy ở Mỹ tăng lên 78% trong năm 2014, so với chỉ 48% vào năm 2012.
Trong đó, GV tham gia khảo sát đều đồng ý rằng mô hình này giúp thái độ học tập trong lớp được cải thiện rất nhiều và điểm số của HS tăng lên 67% so với cách học truyền thống. Với những ưu điểm trên, mô hình lớp học đảo ngược được nhiều cơ sở giáo dục ở Mỹ áp dụng trong giảng dạy, chủ yếu ở các bậc trung học và đại học”. Đại học Texas (2013) đã định nghĩa “Mô hình lớp học đảo ngược thường được coi là một chu kỳ vì sinh viên xem một video, thảo luận và áp dụng kiến thức đó trong lớp, sau đó xem một video khác để giới thiệu nội dung mới, theo một vòng lặp liên tục”. Bởi Bergmann & Sams (2012) và Hamdan và cộng sự, (2013): “Mặc dù các mô hình học trực tuyến đã ảnh hưởng đến khía cạnh phân phối nội dung của học kết hợp và do đó trọng tâm chính của lớp học đảo ngược vẫn là học tích cực”.
“Trong mô hình lớp học đảo ngược, các video hoặc nội 8 dung bài giảng được xem ngoài giờ học; đối với việc hướng dẫn công nghệ, người dạy trình bày nội dung theo mô hình giảng dạy truyền thống nhưng với sự hỗ trợ của các thiết bị internet như Smart Blackboards hoặc máy tính có máy chiếu”. Đây là định nghĩa của Staker & Horn (2012) [37]. Tiếp đến, “mô hình lớp học đảo ngược tập trung vào việc học tập chủ động tại nhà, trực diện diễn ra trong môi trường lớp học, không giống như trọng tâm của các mô hình giáo dục từ xa hoặc EL” do Hamdan, McKnight & Arfstrom (2013) định nghĩa. Các định nghĩa của mô hình lớp học đảo ngược được cấu trúc xung quanh việc dành thời gian trong lớp để học tập tích cực và giúp đỡ người học trong những vấn đề họ đang mắc phải (Bergmann & Sams, 2012) [17].
Theo nhận định của Hamdan và cộng sự, (2013): “Là một giai đoạn trong quá trình phát triển của học tập kết hợp, mô hình lớp học đảo ngược đóng góp các hướng dẫn và thực tiễn tốt nhất để kết hợp các yếu tố công nghệ và học tập tích cực vào một chương trình giảng dạy”. Trong luận án này, tôi chọn định nghĩa của Jacob Bishop và Tiến sĩ Matthew Verleger (2013) là: “… một kỹ thuật giáo dục bao gồm hai phần: các hoạt động học tập nhóm tương tác trong lớp học và hướng dẫn cá nhân dựa trên máy tính trực tiếp bên ngoài lớp học” [24]. Định nghĩa này được xây dựng dựa trên cách giải thích đơn giản được trình bày bởi Lage, Platt và Treglia hơn chục năm trước. Việc tập trung vào công nghệ làm nguồn hướng dẫn thay vì đọc đã trở thành một định nghĩa rõ ràng hơn về mô hình lớp học đảo ngược.
Nhiều nghiên cứu cho thấy việc vận dụng mô hình lớp học đảo ngược vào giảng dạy tác động tích cực đến kết quả của người học. Bài giảng trở thành bài tập ở nhà mà người học phải chuẩn bị trước khi lên lớp. Toàn bộ thời gian trên lớp sẽ dành cho các hoạt động ứng dụng lý thuyết vào giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm để xây dựng hiểu biết dưới sự định hướng của giáo viên. Mô hình FC giúp giảm thiểu thời gian tiếp thu thụ động kiến thức và tăng thêm thời gian đào sâu tư duy, phát triển các kĩ năng của người học.
Các nghiên cứu ở Việt Nam Hiện nay ở Việt Nam, cùng với cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước và công nghệ 4.0 cùng với tình hình kinh tế, xã hội, dịch bệnh Covid 19 từ năm 2020 đến nay thì việc triển khai dạy và học trực tuyến đã và đang phát triển hết sức nhanh chóng. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 09/2021/TT-BGDĐT ngày 30/03/2021 Quy định về quản lý và dạy học trực tuyến trong cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên. Theo điều 3 của thông tư 09/2021/TT-BGDĐT, mục đích của việc dạy học trực tuyến bao gồm [14]: “Hỗ trợ hoặc thay thế dạy học trực tiếp tại cơ sở giáo dục phổ thông giúp cơ sở giáo dục phổ thông nâng cao chất lượng dạy học và hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông. Phát triển năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học; thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành Giáo dục.
Mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho học sinh, tạo điều kiện để học sinh được học ở mọi nơi, mọi lúc.