CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương Tác phẩm văn chương là một quá trình: hiện thực cuộc sống tác động đến nhà văn, những rung động của nhà văn trước cuộc sống cùng với tài năng nghệ thuật của họ sẽ cho ra đời những tác phẩm văn chương, tác phẩm văn chương khi đến với bạn đọc sẽ lại quay trở về tác động tới cuộc sống. Tuy nhiên, đây không phải là một quá trình khép kín mà phát triển theo hướng mở. Mỗi tác phẩm sẽ có những tác động khác nhau đối với những người đọc khác nhau.
Mỗi người đọc sẽ tìm thấy giá trị của tác phẩm ở những khía cạnh khác nhau. Điều đó phụ thuộc vào lứa tuổi, trình độ, hoàn cảnh. của người tiếp nhận. Tùy thuộc năng lực và bản lĩnh khoa học của mỗi người mà mỗi người có cách tiếp cận tác phẩm văn chương khác nhau.
Có người coi trọng hoàn cảnh lịch sử xã hội ra đời tác phẩm; có người đề cao cách đánh giá tác phẩm trong mối quan hệ tác động với bạn đọc; lại có người nhìn tác phẩm ở chính bản thân nó. Mỗi cách tiếp cận đều có những ưu điểm riêng. Để việc tiếp cận tác phẩm văn học hiệu quả cần cần phải xem xét tác phẩm trên tất cả các mặt một cách đồng thời hợp lý, đúng mức vào quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, cảm thụ tác phẩm. Quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương là quan điểm tiếp cận giá trị tác phẩm một cách toàn diện, khoa học.
Theo cố GS Phan Trọng Luận “Một kết luận khoa học văn chương quan trọng và cơ bản đối với người nghiên cứu và giảng dạy văn học là luôn luôn nắm vững một quan điểm tiếp cận đồng bộ, một sự vận dụng hài hòa các phương pháp lịch sử phát sinh, cấu trúc văn bản và lịch sử chức năng khi tiếp cận tác phẩm văn chương. Một phương pháp tiếp cận khoa học như vậy được xây dựng từ nhận thức đúng đắn về nguồn gốc của văn học, về bản chất cấu trúc và sinh mệnh của 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tác phẩm văn chương và đó cũng là sự vận động nhuần nhuyễn những quan điểm khách quan và khoa học về việc tìm hiểu một tác phẩm văn chương cụ thể. Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn Đọc và tiếp nhận văn chương cũng khẳng định: “Hoạt động tiếp cận tác phẩm văn chương là thao tác đầu tiên của cơ chế tiếp nhận. Hoạt động này cần tiến hành một cách đồng bộ, không thể quá nặng, quá nhẹ với bất cứ một khunh hướng nào.
Khung hướng Tiếp cận lịch sử phát sinh quan tâm đến tính chất xã hội của tác phẩm, đến nguồn gốc nhận thức của văn học với đời sống. Hướng tiếp cận bản thể tác phẩm đào sâu vào cơ cấu hình thức được sáng tạo của tác phẩm. Đây là cách tiếp cận mang tính thẩm mỹ văn học. Khuynh hướng Tiếp cận chức năng – tác động tuy không bao hàm nhiều thao tác trí tuệ phức tạp nhưng lại phải vận dụng sự sáng suốt của trái tim để sự cộng thông giữa những vấn đề của con người trong quá trình diễn ra tốt đẹp.
Như vậy, tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương là một phương pháp “khoa học quan trọng” để tìm hiểu, cảm thụ tác phẩm văn chương. Vận dụng quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương vào việc dạy – học Văn trong nhà trường Phổ thông là một phương hướng đúng đắn và cần thiết. Các hướng tiếp cận chủ yếu 1. Tiếp cận từ góc độ lịch sử phát sinh Mỗi nhà văn đều được sinh ra trong một hoàn cảnh lịch sử và đều chịu sự tác động trở lại hoàn cảnh lịch sử.
Do vậy, việc nghiên cứu Văn học phải dựa vào lịch sử là một tất yếu. Mặt khác, mỗi nhà văn là một bản thể văn hoá, là một cá nhân trong cộng đồng xã hội nên việc tìm hiểu cá nhân văn hoá của nhà văn ở một mức độ nào đó sẽ giúp cho người đọc hiểu hơn tác phẩm của họ. Văn học cũng như mỗi tác phẩm văn chương luôn ra đời trong những bối cảnh lịch sử xã hội văn hoá cụ thể. Những yếu tố đó thẩm thấu, chắt lọc thông qua lăng kính của nhà văn để đi vào tác phẩm.
Thế nên muốn nghiên 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cứu cụ thể một tác phẩm chúng ta phải tìm đến bối cảnh lịch sử và cuộc đời nhà văn. Bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh được viết vào năm 1968, thời kì kháng chiến chống Đế quốc Mỹ. Đây là thời điểm có ý nghĩa lớn lao, tác động trực tiếp đến mạch nguồn cảm xúc của bài thơ. Lúc này, lớp lớp thanh niên đã phải từ biệt những gì thân thuộc nhất của tuổi thơ, của mái ấm gia đình, của quê hương để lên đường ra trận.
Chính vì vậy, trên đường hành quân xa, khi nghe thấy tiếng gà nhảy ổ - một âm thanh quen thuộc và vô cùng bình dị lại gợi lên trong lòng người chiến sĩ biết bao nhiêu cảm xúc thân thương về người bà, về kỉ niệm tuổi thơ. Nếu chúng ta không hiểu được hoàn cảnh ra đời của tác phẩm thì khó có thể đồng cảm được với nỗi nhớ nhung của nhà thơ. Nếu tách Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương ra khỏi thời đại mà ông đang sống và cuộc đời của nhà thơ thì chúng ta khó có thể hiểu nổi tâm trạng chơ vơ, lạc lõng, buồn tủi của nhà thơ trong giây phút khi vừa đặt chân tới quê hương của mình và cũng khó có thể hiểu được tình yêu quê hương tha thiết, sâu đậm của nhà thơ. Nhà thơ Hạ Tri Chương (659 – 744), quê ở Vĩnh Hưng, Việt Châu (nay thuộc huyện Tiêu Sơn, tỉnh Chiết Giang), đỗ tiến sĩ năm 695 và từ đấy ông sống ở kinh đô Trường An suốt 50 năm, làm quan tới chức Binh bộ Thượng thư, Bí thư giám.
Đương thời ông được vua Đường Huyền Tông coi trọng, khi từ quan về quê được vua tặng thơ, thái tử và các quan đưa tiễn. 50 năm làm quan ở kinh đô Trường An, có thể nói ông là người đứng trên đỉnh cao của danh vọng, nhưng đến lúc cuối đời vẫn không nguôi nhớ về quê cũ, vẫn giữ được hồn quê khi trở về : “Hương âm vô cải mấn mao tồi”. Nhưng khi trở về quê ở cái tuổi 80 – cái tuổi xưa nay hiếm thì chẳng còn ai nhận ra mình nữa: “Nhi đồng tương kiến bất tương thức Tiếu vấn: Khách tòng hà xứ lai” Và ông đã trở thành khách lạ ngay chính trên quê hương của mình. Thật là lạc lõng, bơ vơ; thật là buồn tủi, ngậm ngùi.
Nhưng cũng chính sự buồn tủi, ngậm ngùi này lại làm nên tứ thơ thấm đượm nỗi niềm quê hương xứ sở. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, tiếp cận theo khuynh hướng lịch sử phát sinh là một phương pháp tiếp cận hết sức quan trọng để tìm hiểu tác phẩm, là cơ sở để lí giải, đánh giá tác phẩm, giữa tác phẩm với hoàn cảnh mà nó ra đời. Nhưng nếu quá coi trọng tính lịch sử của tác phẩm sẽ dẫn đến sự phiến diện trong nghiên cứu bởi nó dẫn đến chỗ thoát li văn bản, suy diễn chủ quan; bàn luận, lí giải văn bản một cách áp đặt. Điều này, trong thực tế đã diễn ra với nền phê bình Việt Nam sau năm 1945.
Không ít người đã lấy những hiểu biết của mình về hoàn cảnh lịch sử, về cuộc đời nhà thơ để giải thích và tìm hiểu tác phẩm. Giá trị của các tác phẩm văn học nhiều khi chỉ được chú ý ở khía cạnh phản ánh cuộc đời thực, từ đó dẫn đến sai lầm: đồng nhất tác phẩm với cuộc đời thực. Hiện thực ngoài đời không đồng nhất với hiện thực trong tác phẩm bởi hiện thực trong tác phẩm là hiện thực được nhà văn lựa chọn, phản ánh, đánh giá theo quan niệm thẩm mỹ của riêng mình. Như vậy, khi tìm hiểu một tác phẩm văn học chúng ta cần phải tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử, cuộc đời nhà văn nhà thơ vì nó giúp chúng ta hiểu được một số khía cạnh nào đó về tác phẩm, nhưng cũng không nên tuyệt đối hóa phương pháp tiếp cận này.
Để khắc phục những hạn chế của phương pháp tiếp cận theo khuynh hướng lịch sử phát sinh, chúng ta cần kết hợp với các phương pháp tiếp cận khác. Tiếp cận văn bản Nếu như Tiếp cận lịch sử phát sinh là sự giao tiếp với xã hội về nghệ thuật ngoài tác phẩm thì Tiếp cận văn bản là giao tiếp với xã hội nghệ thuật trong tác phẩm. Từ việc tìm hiểu văn bản mà khám phá tư tưởng nghệ thuật, chiều sâu tác phẩm, tiềm năng sáng tạo của người nghệ sĩ. Hướng tiếp cận này quan tâm đến giá trị nội tại của tác phẩm.
Khi đọc tác phẩm, chúng ta phải chú ý đến câu chữ, tránh thoát li văn bản dẫn đến suy diễn một cách chủ quan thiếu căn cứ. Tôi đã có dịp đi dự giờ của một giáo viên khi dạy bài thơ Tĩnh dạ tứ (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh) của nhà thơ Lý Bạch. Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu hai câu thơ đầu: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chữ Hán: “Sàng tiền minh nguyệt quang Nghi thị địa thượng sương” Dịch thơ: “Đầu giường ánh trăng rọi Ngỡ mặt đất phủ sương” Giáo viên đã đưa ra câu hỏi: “Nhà thơ Lý Bạch ngắm trăng ở vị trí nào?” Học sinh thứ nhất: - Thưa cô, Lý Bạch ngồi ở trên giường ngắm trăng ạ. Cả lớp cười ồ lên, cô giáo hơi mất bình tĩnh nhưng cô hỏi tiếp: - Có bạn nào có ý kiến khác không? Học sinh thứ hai: - Thưa cô, Lý Bạch nằm ở trên giường ngắm trăng ạ.
Tiếng cười ồ lại vang lên, cô giáo luống cuống, mất bình tĩnh không biết xử lí như thế nào, cuối cùng cô đồng ý với cả hai ý kiến: “Có thể lúc đó Lý Bạch đang ngồi ngắm trăng hoặc đang nằm ngắm trăng”. Như vậy, cách giải quyết đó của giáo viên đã biến một bài thơ hay, có sức lay động hàng triệu trái tim qua bao nhiêu thời đại thành một bài thơ tầm thường, dung tục và trở thành trò cười cho học sinh. Giờ dạy – học Văn đã thất bại. Nguyên nhân của sự thất bại đó là do giáo viên một phần vì mất bình tĩnh nhưng phần lớn là do kiến thức không vững vàng.
Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm, giáo viên đã không chú ý đến từng câu chữ trong văn bản nên đã dẫn đến tình trạng thoát li văn bản, cả học sinh và giáo viên đã rơi vào tình trạng: suy diễn chủ quan.