Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐÈ TÀI 1. Một số vấn đề về phát triển năng lực giao tiếp trong dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học 111, Khái niệm năng lực Tác giả Hoàng Phê trong 7? điển tiếng Việt cho rằng có thé hiểu năng lực theo hai cách: (7) Chi một kha năng, diéu kiện tự nhiên có săn đề thực hiện một hoạt động nào đó. (2) Là một phẩm chất tâm sinh lí tạo cho con người có khả năng đề hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao. Ở cách hiéu thứ nhất thì ndn ø lực là một khả năng có thực, người học bộc lộ kĩ năng nào đó thành thạo.
Ở cách hiểu thứ hai thì nding /e được hiểu là ở dạng tiềm năng có sẵn trong người học, họ có thể giải quyết những vấn dé có thực trong cuộc sống nhờ tiềm năng đó - Chương trình giáo dục phổ thông của New Zealnd thi đưa ra khái niêm: “Năng lực là một kha năng hành động hiệu qua hoặc là sự phản ứng thích dang trong các tình huống phức tạp nào đó” [17, tr. Weinert thì “ Năng lực được thé hiện như một hệ thong kha năng, sự thành thao hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thé giúp con người đu điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể.10] Chương trình giáo duc phô thông tong thé của Việt Nam (2017) đã tiếp thu những yếu tó tích cực của quan điểm vẻ năng lực từ các nước phát triển. Theo chương trình này thì năng lực là thuộc tính cá nhân mà những thuộc tính nảy được hình thành, phát triển nhờ các t6 chất sẵn có cũng như sự cô gắng trong quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp mọi kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chi,.dé thực hiện có hiệu quả một loại hoạt động nhất định, đạt kết qua mong muốn trong những hoàn cảnh cụ thể [dẫn theo 18, tr. Như vậy khi nói về năng lực thì có nhều khái niệm khác nhau.
Nhưng nhìn chung, các khái niệm đều có điểm chung, giúp chúng ta đi đến nhận định như sau: Năng luc cua học sinh T'iéu học chính là kha năng vận dụng kết hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ dé thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập, giải quyết có hiệu quả những vấn dé có thực trong cuộc sống phù hợp với những đặc điềm tâm lí của lứa tuôi học sinh Tiểu học. Năng lực giao tiếp ngôn ngữ “Năng lực giao tiếp ngôn ngữ” còn được gọi là “năng lực ngôn ngữ” hay “năng lực giao tiêp”. Tac giả Hymes là người đâu tiên đưa ra cách hiệu vê khái niệm “năng lực giao tiếp”. Theo Hymes nding lực giao tiếp không chỉ là Lệ ^¬?? năng lực ngữ pháp vốn có mà là năng lực ding ngôn ngữ trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau.
Nghĩa là tùy vào tình huỗng giao tiếp ma con người biết khi nào nên nói, khi nào không, nói điều gi, nói với ai, nói ở đâu, nói theo cach nào [3]. Mặc dù năng lực giao tiếp luôn là mục đích cơ bản của các chương trình dạy học ngôn ngữ hiện nay hướng tới, song nó vẫn được hiểu và lý giải theo nhiều cách khác nhau. [3], Từ cách hiểu của các tác giả trên, trong luận văn này, chúng tôi hiểu năng lực giao tiếp là: Năng lực giao tiếp là khả năng áp dụng kiến thức, kinh nghiệm, thái độ, tình cảm liên quan đến giao tiếp, đảm bảo hoạt động giao tiếp thu được hiệu quả. Dạy học phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh Tiểu học TPhát triển năng lực giao tiếp cho HS ở tiểu học là một quá trình tô chức các hoạt động dạy học nhằm giúp HS hình thành và rèn luyện các thao tác, hành động để trao đổi, tiếp nhận, xử lí thông tin băng phương pháp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong các mối quan hệ của HS ở gia đình, nhà trường, xã hội.
Bằng hình thức giao tiếp, con người được tiếp nhận một lượng thông tin nhất định để biến nó thành tri thức, kĩ năng sống của mỗi người. Giáo dục nhằm phát triển năng lực giao tiếp có vai trò hết sức quan trọng trong việc 10 hình thành và phát triển nhân cách của HS tiểu học. Đối với lứa tuổi HS cấp tiêu học là giai đoạn đầu tiên của cuộc đời hình thành và phát triển nhân cách thì năng lực giao tiếp có tác dụng đặc biệt quan trọng bởi nhờ có kĩ năng giao tiếp các em học tập hiệu quả hơn, các em tự tin tham gia vào hoạt động giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội, trái nghiệm bản thân. Việc phát triển năng lực giao tiếp góp phan giúp cho HS tích cực hon trong các hoạt động.
Giáo dục kĩ năng giao tiếp cho HS ở tiểu học có tác dụng to lớn trong việc bắt đầu tạo nên hệ giá tri sống cho các em, giup các em tự tin thể hiện nó trong cuộc sống hàng ngày. Đông thời, việc dạy học nhằm phat triển năng lực giao tiếp đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với văn hóa ứng xử và văn hóa giao tiếp trong nhà trường. Khi năng lực giao tiếp phát triển, HS sẽ tạo lập được các mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống. Năng lực giao tiếp tác động trực tiếp tới việc xây dựng các mối quan hệ ở mọi lứa tuổi.
Nó là một thế mạnh đối với bất kỳ cá nhân trong công việc cũng như đối với HS Tiểu học trong học tập, rèn luyện. Đặc biệt đối với lứa tuổi học sinh tiểu hoc, giao tiếp là cách thức cho phép HS xây dựng cau nối với bạn bè, với thầy cô giáo và với người khác trong giai đoạn đầu tiên của cuộc đời. Là một phân môn của môn Tiếng Việt, phân môn Luyén tir và cdu có nội dung chương trình, phương pháp và hình thức dạy học được chỉ phối bởi quan điểm phát triển năng lực giao tiếp. Cụ thể là: *Chi phối về nội dung day học Để phát triển năng lực giao tiếp cho HS, dạy học Tiếng Việt cung cấp cho học sinh kiến thức về ngôn ngữ và rèn luyện các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp [4.
Để làm được điều đó thì cần xuất phát từ hệ thống kĩ năng dé chọn kiến thức. Kĩ năng cơ bản của chương trình là hình thành và phát huy 4 kĩ năng đọc, nghe, nói, viết ở HS. Các kiến thức lí thuyết được sử dụng nhằm hình thành và phát triển các kĩ năng này cho HS. Các kiến thức về tiếng Việt cung 11 cấp cho HS ở dang cơ ban nhưng cần có tinh hiện đại.
Hành động của HS được chỉ dẫn bởi quy tắc là những khái niệm lí thuyết về tiếng Việt. Nhờ vậy việc chuyển hóa từ kiến thức thành kĩ năng hoạt động lời nói của HS là quá trình diễn ra dễ dàng: Trên cơ sở đó, năng lực giao tiếp của HS được hình thành. Việc day va học giao tiếp băng tiếng Việt cho HS tiểu học nhằm đạt tới hai mục đích: Thứ nhất, giúp HS diễn đạt băng lời và bằng chữ ý nghĩ của mình theo một yêu cầu đặt ra trước, trên cơ sở hiểu được lời nói, bài viết có sẵn. Thứ hai, giúp HS thực hiện yêu cau đặt ra trước bằng cách diễn đạt băng lời và bằng chữ ý nghĩ của mình, trên cơ sở tự hiểu được lời nói, bài viết trong các hoàn cảnh giao tiếp khác nhau bằng ngôn ngữ tự nhiên.
Ngữ liệu mà GV đưa vào giờ bé sung từ và câu đặc biệt là câu đơn phải là những ngữ liệu sinh động, chân thực, thường xuyên được dùng trong các hoạt động giao tiếp thường ngày và nhất là phù hợp với hoạt động giao tiếp ở lứa tuổi HS tiểu học. Không nên dùng những ngữ liệu khô cứng, xa đời sống thực của HS. Ngữ liệu dùng để dạy Tiếng Việt không chỉ là những bài có sẵn trong tài liệu học tập (SGK, vở bài tập, .) mà còn cả những lời nói, bài viết do chính các em HS tạo ra khi các em giao tiếp ở nhà, ở trường. HS không chỉ đọc, nghe, nói thông thao mà còn tích lũy được các tri thức can thiết, gan gũi với thực tiễn cuộc sốn nhờ nội dung phong phú của những ngữ liệu dạy giao tiếp bằng tiếng Việt.
*Chi phối về phương pháp day hoc Thực hiện dạy học môn Tiếng Việt theo quan điểm phát triển năng lực giao tiếp, GV cần đặt câc đơn vị ngôn ngữ vao trong hoạt động giao tiếp, và sản phẩm giao tiếp; việc dạy học môn Tiếng Việt phải xuất phát từ ngữ cảnh giao tiếp, từ ngữ liệu điển hình cụ thể, sau đó qui nạp thành dấu hiệu khái niệm có tính lí thuyết, rồi vận dụng những kiến thức đó vào giải quyết các bài 12 tập cụ thé. Việc day học câu giao tiếp cho HS phải được coi trọng, trong đó hoạt động chủ yéu là hoạt động thực hành giao tiếp. Trong việc tổ chức dạy học câu đơn, cần gan dạy ngôn ngữ với giao tiếp. Việc tạo được các tình huống giao tiếp, dạy cho HS chuyển từ ngôn ngữ sang lời nói trong hoạt động giao tiếp là việc GV can làm.
Khi dạy về câu đơn, GV cần giúp HS hình thành và rèn luyện kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt trên cơ sở hệ thống bài tập kết hợp các yêu cầu hoạt động bằng ngôn ngữ và lời nói. Bên cạnh các bài tập theo mẫu có sẵn, GV còn đưa HS vào các hoạt động nói năng. Như vậy, GV cần có sự vận dụng và kết hợp một cách linh hoạt các phương pháp dạy học để đưa HS vào các hoạt động giao tiếp. *Chi phối về hình thức dạy học Dưới sự tác động của quan điểm phát triển năng lực giao tiếp thì hình thức dạy học môn tiếng Việt cũng như các môn học khác trong nhà trường cũng thay đổi.
GV can linh hoạt vận dụng các hình thức dạy học dé phát huy năng lực giao tiếp cho HS. Việc tổ chức hình thức dạy học theo quan điểm phát triển giao tiếp có thé được tổ chức dưới các hình thức như thao luận, tham quan, dã ngoại, ngoại khóa, trò chơi học tập, đóng vai,. Tac dung của các hình thức tổ chức dạy học trên tạo ra cơ hội để các HS trong lớp phát huy khả năng của mình, trong việc hoc tập va thi đua giữa HS trong lớp. Cac em HS mạnh dạn tham gia ý kiến, phát huy được tính chủ động của mình, những em nhút nhát được khuyến khích phát biểu ý kiến, nói lên suy nghĩ của mình trước đông người.