CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN Ở chương này, luận văn trình bày một số tổng quan về tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan nhằm xác lập cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu về phương pháp tích hợp nội dung và ngôn ngữ (CLIL) trong dạy học môn Toán bằng tiếng Anh, cụ thể bàn về sơ lược lịch sử nghiên cứu về dạy học môn Toán bằng tiếng Anh trong nước và trên thế giới; nghiên cứu tích hợp nội dung và ngôn ngữ (CLIL) từ khái niệm, đặc tính và sự phù hợp của phương pháp này trong dạy học môn Toán bằng tiếng Anh. Tìm hiểu, nghiên cứu cơ sở thực tiễn thông qua khảo sát thực trạng dạy học tiếng Anh ở cấp Trung học cơ sở và nhu cầu học môn Toán bằng tiếng Anh trên địa bàn thành phố Hà Nội. Tổng quan nghiên cứu 1. Nghiên cứu trên thế giới Châu Âu là nơi hội tụ của nhiều nền văn hóa, chính vì vậy, việc truyền bá văn hóa và ngôn ngữ đã được quan tâm ngay từ rất sớm.
Ngay từ trước những năm 1970, các quốc gia có chung biên giới và các vùng lân cận ở châu Âu đã đặt mục tiêu dạy và học một ngôn ngữ khác ngoài tiếng mẹ đẻ để công dân thành thạo ít nhất 2 ngôn ngữ. Giai đoạn 1970 đến 1980 ở thành phố Quebec, Canada một chương trình giảng dạy hòa nhập đã được triển khai cho học sinh là con em của những người bản ngữ tiếng Anh nhập cư vào thành phố này. Chương trình này đã rất thành công, học sinh có thể học kiến thức bằng 2 ngôn ngữ tiếng Pháp và tiếng Anh, đồng thời có thể giao tiếp tốt. Kết quả của chương trình này đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu về phương pháp giáo dục song ngữ.
Sau đó, phương pháp CLIL được giảng viên David Marsh, Đại học Jyvaskyla, giới thiệu năm 1994 đã nhanh chóng phổ biến và được áp dụng rộng rãi trên toàn Châu Âu. Với phương pháp này, học sinh có cơ hội phát triển đồng đều cả 2 phương diện nội dung và ngôn ngữ một cách sáng tạo và toàn diện hơn. Nghị quyết của hội đồng châu Âu thông qua tháng 3 năm 1995 6 chính thức giới thiệu và đề cập việc áp dụng CLIL trong giảng dạy bao gồm chương trình đào tạo song ngữ cho học sinh và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy ngôn ngữ tiến tới dạy học song ngữ, khuyến khích hoạt động trao đổi sinh viên giáo dục giữa các nước trong Liên minh châu Âu nhằm đào tạo được những giáo viên tương lai có khả năng dạy môn học của mình bằng ngoại ngữ khác. Tiếp sau đó, chương trình Socrates giai đoạn 2000 - 2006 và chương trình Erasmus đã cung cấp ngân sách hỗ trợ việc triển khai CLIL từ việc xây dựng chương trình học cụ thể, nội dung đào tạo, các hoạt động giáo dục ngoại khóa và đào tạo giáo viên ở nhiều quốc gia trong cộng đồng chung châu Âu.
Kế hoạch hành động 2004 - 2006, Ủy ban châu Âu khẳng định CLIL có những thành tựu và đóng góp lớn cho mục tiêu phát triển đa ngôn ngữ trong cộng đồng châu Âu và cũng soạn thảo một bộ kế hoạch hành động phát triển chương trình này (Eurydice, 2006, pp 7 - 9) [16]. Trong quá trình triển khai phương pháp dạy học CLIL, đã có nhiều kết quả nghiên cứu chuyên sâu về tác động của CLIL tới người học, luận văn tóm tắt các công trình nghiên cứu tiêu biểu dưới đây: Theo Lasagabaster và Sierra (2010) [18] nghiên cứu về thái độ học ngoại ngữ của học sing trong lớp học CLIL và lớp học EFL truyền thống. Nghiên cứu thực hiện trên 287 học sinh trung học năm thứ 3 và năm thứ 4 tại 4 trường học khác nhau ở xứ Basque Tây Ban Nha theo học tiếng Anh là ngoại ngữ thứ 2 và tiếng mẹ đẻ (tiếng Basque và tiếng Tây Ban Nha). Kết quả thứ nhất của nghiên cứu cho thấy nhóm học sinh chương trình CLIL có thái độ học tập tiếng Anh tích cực hơn đáng kể so với nhóm học sinh chỉ học chương trình EFL.
Phương pháp tiếp cận CLIL đóng góp hữu hiệu nâng cao các kĩ năng sử dụng tiếng Anh của học sinh bằng việc kích hoạt hứng thú học tập. Kết quả thứ 2 của nghiên cứu cho thấy nhóm học sinh CLIL chú ý, tích cực học 2 ngôn ngữ bắt buộc trong chương trình học Basque (tiếng Basque và tiếng Tây Ban Nha) hơn nhóm học sinh còn lại, như hình sau. Thái độ học tập tiếng Basque và tiếng Tây Ban Nha của học sinh năm thứ 3 và thứ 4 theo nghiên cứu của Lasagabaster và Sierra (2010) Giải thích kết quả nghiên cứu về thái độ học tập tích cực của học sinh nhóm CLIL, nghiên cứu đề cập tới 3 yếu tố là tiềm năng của CLIL bao gồm người học được hưởng lợi ích từ chương trình giảng dạy chất lượng cao hơn; thông qua việc xử lí thông tin nhiều ngôn ngữ người học rèn luyện những kĩ năng tư duy bậc cao và tăng cường phát triển nhận thức; việc học nội dung kiến thức bằng ngôn ngữ khác có thể tạo động lực, thúc đẩy quá trình tìm tòi tự học của người học. Cũng nghiên cứu về tác động tích cực của CLIL tới năng lực sử dụng ngôn ngữ, (Ruiz de Zarobe, 2008) [23] tiến hành một cuộc khảo sát 89 học sinh trung học, cụ thể bao gồm 3 nhóm: nhóm không học CLIL gồm 29 học sinh, 8 học môn tiếng Anh 3 giờ/tuần (không học thêm bất cứ lớp học nào khác); nhóm CLIL một gồm 24 học sinh học một môn Khoa học xã hội 3 đến 4 giờ/tuần với phương pháp CLIL bắt đầu từ năm 14 tuổi (trước đó học tiếng Anh như một môn học 3 đến 4 giờ/tuần); nhóm CLIL 2 gồm 36 học sinh, bên cạnh việc học tiếng Anh như một môn học còn tham gia vào lớp Khoa học xã hội (khoảng 0.75 giờ/ tuần) và lớp văn học Anh hiện đại (khoảng 2 giờ/tuần) với phương pháp CLIL bắt đầu từ năm 14 tuổi.
Kết quả được ghi lại trong biểu đồ ở hình 0. Biểu đồ đánh giá năng lực tiếng Anh 3 nhóm học sinh xứ Basque theo khảo sát của Ruiz de Zarobe (2008) Từ biểu đồ cho thấy học sinh được học theo phương pháp tích hợp nội dung và ngôn ngữ CLIL có kết quả nổi trội hơn so với nhóm còn lại ở tất cả các mặt phát âm, từ vựng, ngữ pháp, thành thạo trôi chảy và kiến thức môn học. Tuy nhiên, kết quả này được cho rằng còn mang tính chủ quan vì thời lượng học tập của các nhóm học sinh chưa đồng đều. Các nước châu Á, trong đó có Việt Nam, bắt đầu nhận thấy được lợi ích của phương pháp dạy học tích hợp nội dung và ngôn ngữ CLIL trong dạy học và hướng tới việc dạy học các môn học bằng tiếng Anh.
“Dự án đổi mới cơ bản” (Primary Inovations Project) được thực hiện ở 4 nước Indonesia, Malaysia, Philipines và Thái Lan dưới sự hướng dẫn của Hội đồng Anh, ứng dụng phương pháp dạy học tích hợp nội dung và ngôn ngữ CLIL trong dạy học. 9 Trọng tâm của dự án là kiểm tra tiềm năng của việc phát triển CLIL cải thiện năng lực tiếng Anh của học sinh trong trường tiểu học. Ở Đài Loan, nghiên cứu của Wenhọc sinhien Yang (2014) điều tra năng lực của sinh viên theo học chương trình CLIL ở các trường đại học và ở Nhật Bản, nghiên cứu của Hitomi Sakamoto thực hiện áp dụng CLIL trong dạy học cho sinh viên đại học về đất nước Việt Nam. CLIL được nghiên cứu ứng dụng trong chương trình giảng dạy đại học.
Okihara Katsuaki (2014) bàn luận về áp dụng CLIL ở 3 nước Singapore, Indonesia và Thái Lan trong báo cáo dự án “Tác động của CLIL đối với giáo dục: Góc nhìn từ kinh nghiệm của các quốc gia Đông Nam Á” đã chỉ ra ưu khuyết điểm của phương pháp này và nhận định tiềm năng của CLIL. Tại Singapore, giáo viên được cung cấp các khóa đào tạo giảng dạy theo phương pháp dạy học tích hợp nội dung và ngôn ngữ CLIL nhằm đáp ứng nhu cầu của nền giáo dục và xem như một phương pháp dạy học do tiếng Anh được xem là ngôn ngữ thứ 2 ở quốc gia này. Ở Indonesia và Thái Lan, CLIL được chính phủ quan tâm và triển khai ở các trường TH và Trung học có tính chất quốc tế. Như vậy, từ khi được giới thiệu CLIL đã nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu và triển khai rộng rãi ở khu vực châu Âu.
Các nghiên cứu khẳng định hiệu quả của phương pháp này trong việc phát triển kĩ năng ngôn ngữ và tích cực hóa người học. Ở châu Á, CLIL mới ở giai đoạn bước đầu nghiên cứu và còn gặp nhiều khó khăn. Nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu về phương pháp tích hợp nội dung và ngôn ngữ (CLIL) trong dạy học như sau: Theo Chu Thu Hoàn (2018) [8] nghiên cứu phát triển năng lực dạy học môn Toán của giáo viên Toán phổ thông. Trong nghiên cứu này, tác giả nhận định “Giáo viên dạy học tích hợp nội dung và ngôn ngữ CLIL cần thành thạo 3 mặt thứ nhất là nội dung bộ môn, thứ 2 là ngôn ngữ và thứ 3 là phương pháp giảng dạy.” Việc áp dụng CLIL trong giảng dạy còn gặp nhiều thách thức về 10 nhiều yếu tố (yếu tố về quản lý; yếu tố về đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu về kiến thức chuyên môn, về ngoại ngữ và chưa hiểu rõ về CLIL; yếu tố về học sinh trình độ ngôn ngữ, khả năng làm việc; yếu tố tài liệu).
Luận án đã có những đóng góp đề xuất những biện pháp nâng cao năng lực dạy học của giáo viên, xây dựng cuốn “Sổ tay Toán tiếng Anh” là tài liệu tham khảo cho giáo viên trong quá trình giảng dạy. Theo Lê Tuấn Anh và Vũ Đình Phượng (2019) [1] nghiên cứu các nội dung của CLIL trang bị cho SV ngành Sư phạm Toán dạy bằng tiếng Anh. Nghiên cứu đề xuất các biện pháp sau: “Giảng viên sử dụng CLIL để dạy các môn học để SV ngành Sư phạm Toán dạy bằng tiếng Anh được trải nghiệm CLIL với vai trò người học; trang bị các thành tố của CLIL cho SV ngành Sư phạm Toán dạy bằng tiếng Anh (khái niệm CLIL và những thành tố cốt lõi của CLIL; rèn luyện kĩ năng tư duy trong dạy học Toán bằng tiếng Anh; tìm hiểu cách thức tổ chức hoạt động của học sinh trong lớp học CLIL; soạn kế hoạch bài học); cho SV thực hành soạn và tập giảng theo CLIL”.