Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về dạy học theo định hướng giáo dục STEM nhằm bồi dưỡng NLGT-HT. - Chương 2: Thiết kế tiến trình dạy học một số nội dung trong chủ đề “Năng lượng và sự biến đổi” môn Khoa học tự nhiên lớp 7 theo bài học STEM. - Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG GIÁO DỤC STEM NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC Năng lực giao tiếp và hợp tác 1.
Khái niệm năng lực giao tiếp và hợp tác Năng lực giao tiếp và hợp tác là một trong những năng lực cốt lõi mà HS cần đạt được trong chương trình giáo dục phổ thông năm 2018, tức là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả (Bộ Giáo dục & Đào tạo, 2018). Đây là năng lực chung mà HS được hình thành và phát triển thông qua mỗi môn học và mỗi cấp học (với những yêu cầu cần đạt riêng). - Năng lực của HS nói chung là sự tổng hoà giữa kiến thức, kĩ năng, thái độ của HS, tức là nói về khả năng tổng hợp, vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã có và những kiến thức, kĩ năng mới vào một bối cảnh cụ thể, một tình huống thực tế với thái độ phù hợp. - Giao tiếp có thể được hiểu là quá trình chuyển giao, tiếp nhận và xử lý thông tin, cảm xúc giữa người này với người khác để đạt được mục tiêu giao tiếp (Burns và cộng sự, 2003).
- Hợp tác theo mô tả của tác giả Hoàng Phê (1995) là “cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó nhằm một mục đích chung.” Dựa vào các mô tả nêu trên cũng như các trải nghiệm cá nhân, chúng tôi xác định rằng NLGT-HT của HS là khả năng HS vận dụng các kĩ năng xã hội để chia sẻ thông tin với nhau và cùng giúp đỡ nhau thực hiện nhiệm vụ học tập, hướng đến mục tiêu chung. Cấu trúc năng lực giao tiếp và hợp tác Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018, NLGT-HT gồm 08 thành tố: (1) xác định mục đích, nội dung, phương tiện và thái độ giao tiếp; (2) thiết lập, phát triển các quan hệ xã hội, điều chỉnh và hoá giải các mâu thuẫn; (3) xác định mục đích và phương thức hợp tác; (4) xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân; (5) xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác; (6) tổ chức và thuyết phục 8 người khác; (7) đánh giá hoạt động hợp tác; (8) hội nhập quốc tế (Bộ GD&ĐT, 2018). Cấu trúc năng lực này mang tính bao quát bởi dành chung cho tất cả các môn học, trong đó môn Khoa học tự nhiên ở cấp THCS và môn Vật lý ở cấp THPT góp phần hình thành và phát triển NLGT-HT cho HS. Khi nói riêng về năng lực hợp tác trong dạy học Vật lý, tác giả Đỗ Hương Trà (2019) đã phân tích các năng lực thành phần của HS dựa trên chuỗi hành động hợp tác và chất lượng hợp tác, cụ thể như sau: 4.
Đánh giá hoạt động 1. Tạo nhóm và lập 3. Tham gia hoạt HT của bản thân và của đích HT kế hoạch HT động HT các thành viên khác trong hoạt động HT Xác định vị trí và Xác định nhiệm vụ Di chuyển, tạo nhiệm vụ của bản Tự đánh giá cần thực hiện nhóm HT thân trong hoạt động HT Phân chia nhiệm Nêu được khả Thực hiện nhiệm vụ hợp tác thành năng của các thành Đánh giá lẫn nhau vụ được giao các nhiệm vụ nhỏ viên trong nhóm Xác định nhu cầu Nêu ý kiến cá nhân (mong muốn) của Đánh giá kết quả Lập kế hoạch HT - kết quả thực hiện các thành viên hoạt động nhóm nhiệm vụ trong nhóm Lắng nghe, phản hồi ý kiến Ghi chép, tổng hợp kết quả HT Hình 1. Cấu trúc của năng lực hợp tác (Trà, 2019) Tuy nhiên, dạy học theo định hướng giáo dục STEM cũng có tiến trình đặc trưng riêng so với chuỗi hoạt động học nêu trên của tác giả Đỗ Hương Trà.
Điểm chung của chúng là những biểu hiện hành vi của HS trong quá trình hợp tác, đã được một số tác giả trình bày như sau đây. Theo Ngô Văn Thiện (2019), hoạt động học hợp tác của HS gồm các biểu hiện hành vi như bảng 1. Biểu hiện hành vi của hoạt động học hợp tác (Thiện, 2019) Hoạt động học hợp tác Biểu hiện hành vi 1. Xác định mục đích 1.
Các thành viên phát biểu rõ ràng về mục đích chung. Phân chia nhiệm vụ 2. Mỗi thành viên đảm nhận một nhiệm vụ. cho thành viên 3.
Trách nhiệm thành 3. Mỗi thành viên thực hiện nhiệm vụ một cách tích cực. viên và sự phụ thuộc 3. Công việc của mỗi thành viên phải tiến lên đồng thời.
công việc lẫn nhau 4. Phản hồi thông tin lẫn nhau giữa các thành viên. Gắn kết công việc 5. Từng thành viên mang lại kết quả công việc cá nhân.
thành viên để đạt mục 5. Khớp nối các kết quả cá nhân để tạo ra sản phẩm đích chung chung. Khéo léo trong hợp tác 6. Giải quyết xung đột giữa các thành viên trong nhóm.
Đóng góp cho sự duy trì phát triển của nhóm. Theo Nemiro (2020), các biểu hiện hợp tác gồm có: (1) Tập trung vào nhiệm vụ của nhóm: Luôn tập trung vào nhiệm vụ và những gì cần phải làm. Rất tự chỉ đạo. (2) Nỗ lực hoặc đóng góp cho nhiệm vụ của nhóm: Đóng góp các nỗ lực, kiến thức, ý tưởng và kỹ năng ở mức độ cao; khuyến khích và hỗ trợ những nỗ lực của những thành viên khác trong nhóm; đóng góp bình đẳng.
(3) Hành vi giao tiếp: Tôn trọng lắng nghe, tương tác, thảo luận và đặt câu hỏi cho tất cả các thành viên trong nhóm trong quá trình thảo luận và giúp nhóm đạt được sự đồng thuận. (4) Kỹ năng giải quyết vấn đề: Chủ động tìm kiếm và gợi ý giải pháp cho vấn đề; sẵn sàng thỏa hiệp. (5) Tham gia tìm hiểu: Luôn cố gắng và kiểm tra các giải pháp định kỳ. Thực hiện hiệu chỉnh hợp lý.
Không nản lòng khi giải pháp không hiệu quả. (6) Thái độ đối với nhiệm vụ của nhóm: Luôn có thái độ tích cực về nhiệm vụ của nhóm và công việc của những thành viên khác trong nhóm. 10 (7) Tinh thần trách nhiệm trong việc hoàn thành nhiệm vụ của nhóm: Kiên trì thực hiện công việc được giao đúng thời hạn.2 mô tả mối tương quan giữa các cách cấu trúc NLGT-HT nêu trên. Tổng hợp cấu trúc NLGT-HT Từ sơ đồ có thể thấy rằng tác giả Đỗ Hương Trà (2019) đã làm rõ hơn cấu trúc NLGT-HT của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2018 đối với dạy học Vật lý nói riêng và các môn khoa học nói chung.
Thành tố “Xác định mục đích hợp tác” theo Đỗ Hương Trà tương đương với một số thành tố theo khung năng lực của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Xác định mục đích và phương thức hợp tác” (thông qua chỉ số “xác định nhiệm vụ cần thực hiện”); “Xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân” (thông qua chỉ số “phân chia nhiệm vụ hợp tác thành các nhiệm vụ nhỏ”); “Xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác” (thông qua chỉ số “xác định nhu cầu của các thành viên trong nhóm”) và “Hội nhập quốc tế”. Tác giả Đỗ Hương Trà cũng làm rõ hơn thành tố “Đánh giá hoạt động hợp tác” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, bao gồm: Tự đánh giá, Đánh giá lẫn nhau và Đánh giá kết quả nhóm. Mỗi thành tố của NLGT- HT theo Bộ Giáo dục và Đào tạo đều tương đương với một hoặc nhiều thành tố của NLGT-HT theo Đỗ Hương Trà, được thể hiện qua các mũi tên trong sơ đồ. Đồng 11 thời, các chỉ số hành vi theo Đỗ Hương Trà cũng tương đương với các chỉ số hành vi theo Nemiro (2020) như phân tích mối tương quan trong sơ đồ Hình 1.
Như vậy, dù phân tích theo nhiều cách khác nhau, các tác giả đều cho thấy NLGT-HT được biểu hiện qua các hành vi của HS: tập trung, nỗ lực, giải quyết vấn đề, trao đổi thông tin, tôn trọng, phản hồi, thái độ, trách nhiệm, tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng và đánh giá kết quả hoạt động nhóm. Dựa vào đó, chúng tôi đưa ra cấu trúc NLGT-HT như sau: 1. Thành tố “Phụ thuộc tích cực lẫn nhau và có trách nhiệm cá nhân”, gồm 4 chỉ số hành vi: 1. Giải quyết vấn đề 1.
Trách nhiệm 2. Thành tố “Giao tiếp tích cực và sử dụng các kĩ năng xã hội”, gồm 3 chỉ số hành vi: 2. Trao đổi thông tin 2. Tham gia phản hồi 3.
Thành tố “Đánh giá hoạt động hợp tác của bản thân và các thành viên”, gồm 3 chỉ số hành vi: 3. Tự đánh giá 3. Đánh giá đồng đẳng 3. Đánh giá kết quả hoạt động của nhóm Đây là cơ sở để chúng tôi quan sát và đánh giá NLGT-HT của HS khi tham gia bài học STEM ở chương 2.
Công cụ đánh giá năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh Chúng tôi dựa vào các nghiên cứu của Nemiro (2020), Đỗ Hương Trà (2019), Ngô Văn Thiện (2019) và Co-Measure (Herro, 2017) để đưa ra bảng đánh giá các biểu hiện hành vi giao tiếp, hợp tác của HS (bảng 1. Co-Measure là phiếu đánh giá tập trung vào khả năng hợp tác giải quyết vấn đề của học sinh khi tham gia vào các 12 hoạt động STEAM. Co-Measure có hai mục tiêu nhằm hỗ trợ các nhà nghiên cứu và GV: (1) xác định các kĩ năng hợp tác cụ thể cho các hoạt động STEAM và (2) đánh giá sự hợp tác của học sinh trong quá trình học STEAM ở cấp độ cá nhân. Mỗi biểu hiện được đánh giá theo ba mức độ: Cần cải thiện, Có thể chấp nhận được và Thành thạo.
Trong phiếu đánh giá hợp tác của Nemiro (2020), HS được đánh giá bảy hành vi hợp tác với thang điểm đánh giá dựa trên hành vi (Schwab, Heneman I và DeCotiis 1975) bao gồm: Gương mẫu = 4 điểm, Thành thạo = 3 điểm, Thành thạo một phần = 2 điểm, Chưa hoàn thành = 1 điểm và 0 = Không làm. Khung đánh giá NLGT-HT của HS Thành Chỉ số Mức độ biểu hiện của hành vi tố hành vi Mức 3 Mức 2 Mức 1 1. Tập Xác định rõ mục Tập trung vào Tập trung vào nhiệm thuộc trung đích hợp tác. Luôn nhiệm vụ và vụ và những gì cần tích tập trung vào những gì cần phải phải được thực hiện cực lẫn nhiệm vụ và được thực hiện trong một số thời nhau những gì cần phải hầu hết thời gian.