phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học lý luận văn học trong chƣơng trình Ngữ văn THPT theo hƣớng tích hợp liên phân môn. Chƣơng 2: Nội dung và phƣơng pháp dạy học lý luận văn học trong chƣơng trình Ngữ văn THPT theo hƣớng tích hợp liên phân môn. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC LÝ LUẬN VĂN HỌC TRONG CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT THEO HƢỚNG TÍCH HỢP LIÊN PHÂN MÔN 1.
Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm tích hợp Tích hợp là một khái niệm có nguồn gốc từ tiếng La tinh (Integration) với nghĩa: xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ. Theo từ điển Tiếng Anh - Anh (Oxford Advanced Learner’s Dictionary), từ Intergrate có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một tổng thể. Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhƣng đƣợc kết hợp với nhau nhằm đạt đến mục đích và hiệu quả hoạt động.
Theo Từ điển Giáo dục: Tích hợp chỉ “sự liên kết các đối tượng nghiên cứu của cùng một lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”, cách hiểu này nhấn mạnh vào tính liên môn giữa các môn học. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Hùng cho rằng “Tích hợp là quan điểm hoà nhập, được hình thành từ sự nhất thể hoá những khả năng, một sự quy tụ tối đa tất cả những đặc trưng chung vào một chỉnh thể duy nhất”. Nhƣ vậy, tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà hợp, sự kết hợp. Nội hàm khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay là sự thể hoá đƣa tới một đối tƣợng mới nhƣ là một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tƣợng.
Hiểu nhƣ vậy thì tích hợp có hai tính chất cơ bản, mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau, là tính liên kết và tính toàn vẹn. Liên kết phải tạo thành một thực thể toàn vẹn, không còn sự phân chia giữa các thành phần kết hợp. Tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại giữa các phần liên kết chứ không phải là sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau. Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ đƣợc thụ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đắc, tác động một cách riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, tình huống.
Tích hợp là một khái niệm đƣợc sử dụng trong nhiều lĩnh vực. Trong lĩnh vực khoa học giáo dục, khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời kì Khai sáng, dùng để chỉ một quan niệm giáo dục toàn diện cho con ngƣời nhằm chống lại hiện tƣợng làm cho con ngƣời phát triển thiếu hài hòa, cân đối. Tích hợp là một khái niệm rộng, ở mỗi lĩnh vực khoa học khác nhau cũng đƣợc hiểu và ứng dụng khác nhau. Trong dạy học, tích hợp đƣợc hiểu là sự “phối kết hợp các tri thức của một số môn học có những nét chính tƣơng đồng vào một lĩnh vực chung, thƣờng là những chủ đề, những kiến thức nguồn” [34,tr.
Trong sách giáo viên Ngữ văn 6 - tập 1 - NXB GD, HN, 2003, do Nguyễn Khắc Phi tổng chủ biên có nêu: Tích hợp là "Một phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ, các môn học khác nhau theo những hình thức, mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu cụ thể khác nhau”. Trong chƣơng trình THPT, môn Ngữ văn, năm 2002 của Bộ giáo dục và Đào tạo, khái niệm tích hợp cũng đƣợc hiểu là “sự phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc” [4, tr. Đối với việc dạy học các bộ môn, tích hợp đƣợc hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (theo cách hiểu truyền thống từ trƣớc tới nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của môn học. Ví dụ: lồng ghép nội dung giáo dục dân số, giáo dục đạo đức, giáo dục môi trƣờng, giáo dục an toàn giao thông trong môn học Ngữ văn mà cụ thể là phần đọc - hiểu văn bản nhằm xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền thống.
Nói cách khác, tích hợp là những phƣơng thức tối ƣu các quá trình học tập một cách 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com riêng rẽ các môn học, các phân môn học khác nhau đáp ứng mục tiêu, mục đích và yêu cầu cụ thể khác nhau. Tóm lại, trong lý luận dạy học, tích hợp đƣợc hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, các kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn đƣợc đề cập đến trong các môn học hoặc các phần của bộ môn đó.2 Các cách tích hợp Trong quá trình học tập, HS có thể lần lƣợt học các môn học khác nhau, những phần khác nhau trong mỗi môn học nhƣng HS phải biểu đạt các khái niệm đã học trong những mối quan hệ hệ thống trong phạm vi từng môn học cũng nhƣ giữa các môn học khác nhau. Thông tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có nhƣ vậy các em mới thực sự làm chủ đƣợc kiến thức và vận dụng đƣợc kiến thức đã học trong các tình huống cụ thể của cuộc sống. Vì thế cần phải thấy đƣợc vai trò của môn học và những tƣơng tác của các môn học khác nhau.
Theo D’ Hainaut (dẫn theo Trần Bá Hoành trong “Dạy học tích hợp” ) [16,tr. có 4 quan điểm khác nhau đối với các môn học. Quan điểm “đơn môn”: Có thể xây dựng chƣơng trình học tập theo hệ thống nội dung của mỗi môn học riêng biệt. Các môn học đƣợc tiếp cận một cách riêng rẽ.
Quan điểm “đa môn”: Một chủ đề trong nội dung học tập có liên quan với những kiến thức, kĩ năng thuộc một số môn học khác nhau. Các môn học tiếp tục đƣợc tiếp cận một cách riêng rẽ, chỉ phối hợp với nhau ở một số đề tài, nội dung. Quan điểm “liên môn”: Nội dung học tập đƣợc thiết kế thành một chuỗi vấn đề, tình huống đòi hỏi muốn giải quyết HS phải huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của những môn học khác nhau. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quan điểm “xuyên môn”: Nội dung học tập hƣớng vào phát triển các kĩ năng, năng lực cơ bản mà HS có thể sử dụng vào tất cả các môn học, trong việc giải quyết các tình huống khác nhau.
Trong thời đại hiện nay, khi những vấn đề giao lƣu, hội nhập khoa học, công nghệ hiện đại trên thế giới, khu vực cũng nhƣ trong nƣớc đang phát triển hết sức nhanh chóng thì một trong những yêu cầu quan trọng đặt ra đối với nhà trƣờng là cần hƣớng tới việc phát triển các năng lực của ngƣời học, đặc biệt là năng lực hành động một cách chủ động và có hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề mà cuộc sống đặt ra. Do vậy, khi xây dựng nội dung học tập không thể chỉ bằng lòng với các quá trình học tập đơn lẻ mà cần phải tích hợp các quá trình này lại với nhau trong các tình huống có ý nghĩa đối với ngƣời học. Điều này còn xuất phát từ cơ sở triết học, bởi bản thân sự vật hiện tƣợng tồn tại dƣới dạng tích hợp nhƣ nó vốn có trong thực tế. Trƣớc đây khoa học giáo dục thƣờng tách sự vật hiện tƣợng thành những bộ phận riêng rẽ để làm đối tƣợng cho các môn học.
Sự tách rời này có những thuận lợi để phát triển những kiến thức chuyên sâu, nhƣng cũng đã cho thấy những hạn chế là khó vận dụng trong thực tiễn. Xu thế dạy học hiện đại tích hợp một số lĩnh vực, nội dung, môn học tức là trả cho sự vật hiện tƣợng những tính chất mà nó vốn có, giúp HS tiếp cận gần hơn với thực tế, vì thế cũng dễ áp dụng những kiến thức lí thuyết vào đời sống thực tế hơn. Tích hợp có nhiều hình thức, mức độ có thể tích hợp theo nhiều hƣớng và nhằm nhiều mục đích khác nhau. Nhu cầu của xã hội hiện đại đòi hỏi nhà trƣờng phải hƣớng tới hai quan điểm liên môn và xuyên môn trong dạy học.
Tròng đó quan điểm liên môn phối hợp sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết mọi tình huống, còn quan điểm xuyên môn lại tìm cách phát triển ở HS những kĩ năng có thể áp dụng ở mọi nơi. Theo Xavier Roegiers (dẫn theo Trần Bá Hoành trong “Dạy học tích hợp” ) [ 16, tr.11] có 4 cách tích hợp môn học: 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cách 1: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học đƣợc thực hiện ở cuối năm học hay cuối cấp học. Ví dụ các môn Văn, sử, địa vẫn đƣợc dạy một cách riêng rẽ nhƣng đến cuối năm hoặc cuối cấp có một phần/ một chƣơng về những vấn đề chung của các khoa học xã hội, HS đƣợc đánh giá bằng một bài thi tổng hợp kiến thức. Cách 2: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học đƣợc thực hiện ở những thời điểm đều đặn trong năm.
Ví dụ: Các môn Lí, Hoá, Sinh vẫn đƣợc giảng dạy một cách riêng rẽ, hoặc vì bản chất và logic phát triển nội dung từng môn học, hoặc vì các môn học này do các giáo viên khác nhau đảm nhiệm. Tuy nhiên, chƣơng trình có bố trí xen một số chƣơng tích hợp liên môn vào chỗ thích hợp nhằm làm cho HS quen dần với việc sử dụng kiến thức của các môn học gần gũi nhau. Cách 3: Phối hợp quá trình các môn học khác nhau bằng các đề tài tích hợp. Cách này áp dụng cho các môn học gần nhau về bản chất, mục tiêu hoặc cho những môn đóng góp bổ sung cho nhau.
thƣờng dựa vào các môn học công cụ. Các môn học này có đặc điểm là chỉ có một phần nội dung là đặc thù nhƣng có thể nhận các môn học khác làm nội dung của mình nhƣ Tiếng Việt, Toán. Trong trƣờng hợp này môn học tích hợp do một giáo viên đảm nhiệm.