CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1 Lịch sử nghiên cứu trên thế giới Vào những năm cuối thế kỉ XX, khái niệm dạy học tích hợp bắt đầu xuất hiện. Tại nhiều quốc gia, có các ý kiến cho rằng giáo dục khi đó chưa trang bị cho học sinh đầy đủ năng lực để trở thành những công dân hữu ích và đáp ứng được yêu cầu của thế kỉ XXI. Một trong số các nguyên nhân được đưa ra là do chương trình dạy học chưa phù hợp, khiến học sinh không tìm thấy ý nghĩa cá nhân, sự kết nối giữa các môn học. Bên cạnh đó, sự phát triển của Internet và các phương tiện truyền thông cũng cung cấp cho người dùng một lượng lớn thông tin ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Các phương pháp dạy học tích hợp, đặc biệt là tích hợp giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau cần được áp dụng thường xuyên, linh hoạt, phù hợp. Với mục tiêu đáp ứng được sự thay đổi của xã hội thì giáo dục cần bồi dưỡng cho người học khả năng thu thập, chọn lọc, phân tích thông tin, cũng như ứng dụng các nội dung đã học để xử lý các tình huống thực tế. Từ đó, khái niệm dạy học tích hợp đã ra đời dưới sự thống nhất của các nhà khoa học. Tháng 9 năm 1968, dưới sự bảo trợ của UNESCO, Hội đồng Quốc tế về Giáo dục Khoa học tổ chức “Hội nghị tổng hợp về Giáo dục Khoa học” với sự tham gia của rất nhiều nhà khoa học tại Varna (Bulgaria).
Dạy học tích hợp có thể mang lại cho người học điều gì quan trọng mà dạy học truyền thống không làm được? Dạy học tích hợp các khoa học là như thế nào, có gì khác với dạy học truyền thống? là hai vấn đề chính được hội nghị thảo luận sôi nổi.[6] Năm 1972 tại thủ đô Paris của nước Pháp, hội nghị phối hợp các chương trình đã được UNESCO tổ chức. Sau quá trình nghiên cứu, thảo luận, các nhà khoa học đã rút ra định nghĩa dạy học tích hợp là dựa trên sự thống nhất về tư tưởng, người dạy trình bày các khái niệm, nguyên lý, mà không khắc sâu sự khác biệt giữa các lĩnh vực khoa học. Qua đây, các nhà khoa học nhấn mạnh cách tiếp cận dựa trên khái niệm và nguyên lý khoa học chứ không phải là gộp tất cả nội dung một cách giản đơn. Vào những năm 70 của thế kỷ XX, phần lớn trẻ em ở các nước đang phát triển chỉ có điều kiện học hết cấp tiểu học và trung học nên UNESCO đặc biệt chú ý đến giảng dạy khoa học và đào tạo giáo viên tại hai cấp học này.
Lúc này, việc giảng dạy các môn khoa học trong nhà trường không chỉ chuẩn bị nền tảng cho học sinh bước vào các giai đoạn giáo dục tiếp theo mà còn cho cả cuộc sống trưởng thành sau này. 9 Tháng 4 năm 1973 tại Đại học Maryland, Washington D.C, Hoa Kỳ, UNESCO đã tổ chức hội nghị bàn về những yêu cầu đặt ra khi đào tạo giáo viên để đáp ứng được yêu cầu dạy học tích hợp các khoa học. Là một phần của hội nghị, khái niệm dạy học tích hợp đã được mở rộng để bao gồm lĩnh vực công nghệ học. Các nhà khoa học nhận thấy khoa học và công nghệ là hai lĩnh vực hoạt động của con người, có những đặc điểm khác nhau và có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Giảng dạy tích hợp khoa học và công nghệ có nghĩa là chỉ ra cách chuyển từ nghiên cứu khoa học sang ứng dụng và đưa kiến thức kỹ thuật, công nghệ trở thành một phần rất quan trọng của đời sống trong xã hội hiện đại. Sau đó, rất nhiều nghiên cứu khoa học, các bài báo, cuốn sách về dạy học tích hợp đã được các nhà khoa học xuất bản như: Xavier Roegiers đã xuất bản công trình nghiên cứu “Làm sao để phát triển năng lực ở các trường học – Khoa học sư phạm tích hợp liên môn”. Tác giả đã đề cao vai trò của học tập tích hợp liên môn. Giáo dục nên tổ chức dạy học theo hướng tích hợp liên môn thông qua các tình huống có ý nghĩa để giúp học sinh tiếp thu kiến thức, phát triển những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống, thay vì phát triển các mục tiêu riêng lẻ.
Trong sách "The Mindful School: How to Integrate the Curricula," Robin Fogarty mô tả các phương pháp, cách thức tích hợp liên môn trong quá trình giảng dạy. Trong các tác phẩm như "Meeting Standards through Integrated Curriculum" (2004), và "Creating Standards-Based Integrated Curriculum: The Common Core State Standards Editions" (2012), Susan M. Drake đã nhấn mạnh rằng việc dạy học tích hợp liên môn là một xu hướng không thể tránh khỏi trong lĩnh vực giáo dục của thế kỷ XXI.Todd với tác phầm “Curriculum Integration Learning in a changing world” (2010) cũng đã mô tả việc dạy học tích hợp trong môi trường kỹ thuật số hay thế giới ảo, song hành với sự phát triển về khoa học kỹ thuật trong thế kỉ XXI.2 Lịch sử nghiên cứu tại Việt Nam Song hành với thế giới, các nhà khoa học Việt Nam cũng đưa ra các nghiên cứu và ứng dụng dạy học tích hợp trong chương trình giáo dục Trên tạp chí nghiên cứu giáo dục, có rất nhiều các tác phẩm bàn về dạy học tích hợp. Trong thời gian đó, tác giả Trần Viết Thụ cũng nêu quan điểm về giảng dạy tích hợp liên môn bộ môn lịch sử với các môn học khác như: văn học, chính trị, địa lí khi giảng dạy các vấn đề văn hoá trong đề tài nghiên cứu “Vận dụng nguyên tắc liên môn khi dạy học các vấn đề văn hoá trong SGK lịch sử THPT”.
10 Năm 1999, tác giả Lê Trọng Sơn đã minh họa một ví dụ về tích hợp liên môn trong bộ môn Sinh học lớp 9 thông qua tác phẩm "Phương pháp tích hợp giáo dục dân số qua dạy học giải phẫu sinh lý người ở lớp 9 THCS". Trên tạp chí giáo dục cũng có rất nhiều bài đăng về vấn đề này như: Bài báo “Giảng dạy tích hợp các khoa học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo” của tác giả Dương Tiến Sỹ (2001). Công trình “Dạy học tích hợp” của tác giả Trần Bá Hoành (2002) -cơ sở cho rất nhiều công trình nghiên cứu sau này. Tác phẩm “Bàn về tính tích hợp các phương thức biểu đạt trong văn bản” của tác giả Nguyễn Trí (2004).2 Chương trình giáo dục phổ thông môn Toán 2018.1 Chương trình giáo dục phổ thông môn Toán 2018 Trong chương trình giáo dục phổ thông môn Toán 2018, tính tích hợp liên môn được đặc biệt chú trọng, thể hiện rõ qua khung chương trình 2018.
Nội dung luận văn sẽ tập trung phân tích khung chương trình môn Toán 2018 lớp 10. Chương trình giáo dục phổ thông môn Toán 2018 lớp 10 Nội dung Yêu cầu cần đạt ĐẠI SỐ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ GIẢI TÍCH Đại số Tập Mệnh đề - Nhận dạng, xây dựng và phát biểu được các mệnh hợp. đề Toán học như mệnh đề phủ định; mệnh đề đảo; Mệnh Mệnh đề phủ mệnh đề tương đương; mệnh đề có chứa ký hiệu đề định. - Xác định được mệnh đề Toán học đơn giản đúng Mệnh đề hoặc sai.
Điều kiện cần và đủ. Các - Nhận biết được các khái niệm nền tảng về tập hợp phép toán như tập hợp con, hai tập hợp bằng nhau, tập hợp tập hợp. rỗng) và sử dụng được các ký hiệu , , . - Thực hiện được các phép toán như: tìm hợp, giao, hiệu hai tập hợp hay tìm phần bù của một tập hợp con và biểu diễn được tập hợp thông qua biểu đồ Ven.
- Vận dụng phép toán tập hợp, xử lý được các vấn đề thực tiễn như: tính số phần tử của hợp, giao các tập hợp,. 11 Bất Bất phương- Nhận dạng được bất phương trình và hệ bất phương trình, hệ bất phương trình bậc nhất hai ẩn. trình và phương trình - Trên mặt phẳng tọa độ Oxy , biểu diễn miền nghiệm hệ bất bậc nhất hai của bất phương trình và hệ bất phương trình bậc nhất phương ẩn và ứng hai ẩn đã cho. trình dụng - Áp dụng bất phương trình, hệ bất phương trình bậc bậc nhất hai ẩn để xử lý vấn đề trong cuộc sống hằng nhất ngày (ví dụ: bài toán tìm cực trị của biểu thức hai ẩn F ax by trên một miền đa giác,.) Hàm số Các khái - Nhận dạng mô hình thực tế được biểu diễn dưới và đồ niệm liên các dạng khác nhau như: bảng, công thức, biểu đồ, thị quan về hàm từ đó dẫn đến khái niệm hàm số.
số và đồ thị - Diễn tả được các khái niệm cơ bản của hàm số như: định nghĩa, tập xác định,điểm thuộc đồ thị hàm số, tập giá trị, tính biến thiên, đồ thị hàm số. - Nhận dạng, mô tả được đặc điểm hình học, tính đồng biến, nghịch biến của đồ thị hàm số. - Sử dụng kiến thức về hàm số để xử lý được các vấn đề thực tế như viết được phương trình hàm số bậc nhất trên những khoảng khác nhau để biểu diễn mối quan hệ của số tiền y (phải trả) khi gọi điện thoại theo số phút gọi x,. Hàm số bậc - Xây dựng được bảng giá trị khi đã biết phương hai, đồ thị trình hàm số bậc hai.
của hàm số - Từ phương trình hàm số bậc hai đã cho, vẽ được bậc hai và parabol. ứng dụng - Nhận biết, xác định được các tính chất căn bản như đỉnh, trục đối xứng của parabol, điểm thuộc đồ thị hàm số. - Vận dụng kiến thức về đồ thị hàm số bậc hai để xử lý được vấn đề thực tiễn như tìm chiều cao của cầu, cổng có hình dạng parabol,. Dấu của tam - Quan sát, nhận xét vị trí, giao điểm của đồ thị hàm thức bậc hai.
số bậc hai với trục hoành, lý giải được dấu của tam Bất phương thức bậc hai và rút ra định lý. trình bậc hai - Tìm được tập nghiệm của bất phương trình bậc hai một ẩn một ẩn cơ bản. - Vận dụng kiến thức về bất phương trình bậc hai một ẩn để giải quyết được vấn đề thực tiễn như xác định chiều cao lớn nhất để xe có thể qua hầm, cổng có hình dạng parabol,.