CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG MÔ HÌNH DẠY HỌC TRA CỨU (IBL) TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 1. Cơ sở lí luận của mô hình dạy học tra cứu (IBL) 1. Mô hình dạy học tra cứu (IBL) 1.
Khái niệm mô hình dạy học tra cứu (IBL) “Inquiry” được định nghĩa là việc tìm kiếm, sự thật, thông tin hay kiến thức bằng cách đặt câu hỏi. Mô hình dạy học tra cứu (IBL) là mô hình dạy học trong đó quá trình nghiên cứu tìm hiểu thế giới vật chất hay tự nhiên bằng cách đặt câu hỏi và khám phá để tìm hiểu biết mới. Vì thế, Tiếng Việt có tạm dịch là mô hình dạy học dựa trên câu hỏi hay mô hình dạy học điều tra. IBL là mô hình dạy học trong đó GV thu hút được HS tham gia vào quá trình học tập thông qua những câu hỏi, những hoạt động giải quyết vấn đề.
Hơn nữa, IBL giúp HS nắm vững kiến thức hơn vì được tham gia vào bài học nhiều hơn, kết hợp sự tham gia tích cực của học sinh bằng cách cho chúng đặt câu hỏi và mang lại trải nghiệm thực tế cho chúng. Cơ sở của phương pháp này là truyền tải quá trình suy nghĩ của học sinh thông qua hệ thống các câu hỏi gợi ý, cách thức tra cứu giúp học sinh “cách nghĩ” thay vì “nghĩ gì” IBL là mô hình dạy học hướng vào người học, tạo cơ hội cho HS học tập thoải mái, thu hút HS tìm kiếm thông tin để giải quyết được vấn đề (trả lời câu hỏi bài học, tìm kiến thức cho mình) thông qua làm việc hợp tác với bạn bè, thầy cô để tìm giải pháp, xử lí thông tin. Cấu trúc mô hình IBL Mô hình IBL bao gồm 5 giai đoạn: Hỏi: Một câu hỏi khái quát được GV hoặc HS đặt ra. Câu hỏi này phải trả lời được, có nội dung khoa học, có ý nghĩa và hấp dẫn người học.
11 Lên kế hoạch và dự đoán: HS sẽ lên kế hoạch thực hiện điều tra để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đưa ra ở đầu bài học. Điều tra: HS bắt đầu phân tích câu hỏi khái quát thành các câu hỏi cơ sở, câu hỏi định hướng sau đó thu thập thông tin bằng cách: tìm tài liệu, quan sát, phỏng vấn, nghiên cứu và loại bỏ các ý tưởng không phù hợp. Sau đó, HS tổng hợp kiến thức, ý tưởng mới, kết quả xảy ra ngoài dự đoán. Thảo luận: HS đem kết quả vừa điều tra được chia sẻ cùng bạn bè, trao đổi với nhau để cùng tìm ra câu trả lời.
Phản hồi: HS đối chiếu kết quả thu được với câu hỏi khái quát, thể hiện câu trả lời bằng sản phẩm học tập ví dụ như: bài thuyết trình, trang web, tranh ảnh, đồ thị, sơ đồ. Sau khi học với mô hình IBL, HS sẽ có được kiến thức và rèn các năng lực, kĩ năng như: Kiến thức của bài học: bao gồm những kiến thức cơ bản và kiến thức mở rộng, nâng cao. Kiến thức quá trình: HS chủ động tìm được con đường tìm ra kiến thức. Rèn luyện các kĩ năng sống cần thiết như: thu thập thông tin, giải quyết vấn đề, hợp tác với bạn bè; kĩ năng phản biện.
Ngoài ra việc thường xuyên học tập theo mô hình IBL góp phần nuôi dưỡng cho học sinh thói quen tư duy tốt: biết suy nghĩ, đánh giá, đặt câu hỏi và tìm cách trả lời. Từ đó, học sinh tự bổ sung kiến thức mới cho mình có nghĩa là biết tự học suốt đời. Ưu, nhược điểm của mô hình IBL Ưu điểm Khuyến khích tư duy phản biện. Mô hình IBL khuyến khích học sinh suy nghĩ chín chắn về thông tin mà mình trình bày.
Học sinh được yêu cầu đặt câu hỏi về thông tin và phát triển các giải pháp của riêng mình qua đó giúp học sinh phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng tư duy phản biện. 12 Cải thiện kỹ năng giải quyết vấn đề. Mô hình IBL giúp học sinh phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề. Khi có cơ hội khám phá các vấn đề trong học tập, họ buộc phải suy nghĩ và đưa ra những giải pháp giải quyết vấn đề của riêng mình.
Đây đồng thời cũng là một kỹ năng quan trọng sẽ giúp học sinh trong tương lai. Khuyến khích sự sáng tạo. Khi học sinh có cơ hội khám phá vấn đề một cách độc lập, học sinh có thể trình bày vấn đề đó với nhiều hình thức và nội dung khác nhau, chúng thường đưa ra các giải pháp rất sáng tạo và đa dạng. Cải thiện kỹ năng giao tiếp.
Mô hình IBL giúp cải thiện đáng kể kỹ năng giao tiếp của học sinh. Khi giải quyết một vấn đề, học sinh thường phải giải thích suy nghĩ và ý tưởng của mình cho GV và bạn bè. Điều này giúp các em học cách giao tiếp hiệu quả với người khác. Khuyến khích học tập tích cực.
Cuối cùng, mô hình IBL khuyến khích học sinh tham gia một cách tích cực vào quá trình học tập, học sinh có nhiều khả năng ghi nhớ thông tin hơn do thực tế là các em đã đầu tư vào những gì mình đang làm. Tóm lại, mô hình dạy học tra cứu (IBL) góp phần cải thiện sự tham gia của học sinh, tăng cường tình tích cực của HS trong quá trình học tập. Học sinh chịu trách nhiệm đặt những câu hỏi mà họ muốn khám phá vì vậy điều này đòi hỏi sự tham gia có ý nghĩa và chủ động của học sinh cùng với sự hỗ trợ của giáo viên để giải quyết vấn đề được đặt ra, tất cả đều thúc đẩy sự tham gia của học sinh. Học sinh tham gia được đầu tư nhiều hơn về mặt cảm xúc, hành vi và trí tuệ cho việc học của chính họ.
Bên cạnh đó, mô hình IBL có thể giúp HS tăng cường khả năng làm chủ bản thân: Khi học sinh khám phá và thích khám phá thay vì chỉ nghe giảng, sẽ phát triển khả năng thành thạo các kỹ năng và khái niệm cao hơn. Mô hình IBL rất thích hợp với phương pháp dạy học hợp tác, phù hợp với mọi lứa tuổi và đặc biệt nó có lợi 13 thế rất lớn để kích thích niềm say mê học tập của HS; phát triển tư duy, kĩ năng điều tra khoa học cho HS. Nhược điểm Bên cạnh những ưu điểm của mình thì mô hình dạy học tra cứu (IBL) cũng có một vài hạn chế như cần khá nhiều thời gian, công sức của GV và HS. Để thực hiện tốt mô hình này yêu cầu GV phải có trình độ chuyên môn vững vàng, hiểu HS, nhiệt tình và có kinh nghiệm tổ chức, quản lí HS.
Đồng thời để phát huy hiệu quả của mô hình IBL rất cần có các phương tiện và cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại đặc biệt để có kết quả tốt thì HS phải có khả năng sáng tạo, tự giác và có tinh thần trách nhiệm trong học tập. Mô hình IBL cũng nhằm tập trung hướng đến việc khơi dậy trí tò mò và sự khao khát tìm kiếm câu trả lời của học sinh. So sánh mô hình IBL với các phương pháp dạy học truyền thống Sự khác nhau giữa mô hình IBL và dạy học truyền thống: Bảng 1.1 So sánh mô hình IBL với các phương pháp dạy học truyền thống Dạy học tra cứu (IBL) Phương pháp truyền thống HS được coi là trung tâm, chủ động HS thụ động tiếp nhận tri thức từ chiếm lĩnh tri thức phía GV GV đóng vai trò là người cố vấn, GV đóng vai trò là trung tâm, là định hướng người cung cấp kiến thức HS là người hỏi đồng thời cũng là GV là người hỏi, HS là người trả người tìm kiếm câu trả lời trong khi lời. đó GV là người lập kế hoạch.
Nhấn mạnh vào tinh thần nỗ lực của Nhấn mạnh nỗ lực cá nhân, cạnh mỗi cá nhân để cùng nhau cộng tác, tranh. Nhấn mạnh vào phương pháp để tìm Nhấn mạnh vào kiến thức GV 14 ra tri thức. Thông qua việc trả lời truyền đạt cho học sinh. Thông qua câu hỏi “làm thế nào chúng ta biết?” việc trả lời câu hỏi “chúng ta biết cái gì?” Góp phần phát triển kĩ năng và nuôi Không chú ý nhiều đến việc phát dưỡng thói quen tư duy tích cực triển kĩ năng và nuôi dưỡng thói quen tư duy.
Kết quả học tập của học sinh được Kết quả học tập của học sinh được đánh giá dựa trên sự tập trung vào đánh giá chỉ tập trung vào câu trả sự phát triển kĩ năng và kiến thức. Không những chú trọng đến thành Quan tâm thành công của HS trong công trong trường mà còn chuẩn bị trường học phổ thông, không quan cho quá trình sống và học tập cao tâm đến việc giúp HS học tập tiếp hơn của HS. để thích nghi với cuộc sống. HS được tạo điều kiện học trong HS bị áp đặt, không kích thích môi trường thoải mái kích thích hứng thú học tập và lòng đam mê hứng thú, lòng đam mê nghiên cứu.
nghiên cứu khoa học. IBL tập trung vào học tập kiến thức Phương pháp dạy học truyền thống do tự học, do kinh nghiệm và một tập trung vào việc học tập kiến phần từ người khác. thức do người khác truyền lại. Có thể nhận thấy sự khác nhau rõ nhất giữa mô hình dạy học tra cứu IBL và dạy học truyền thống là vị trí và vai trò của GV, HS trong việc lĩnh hội kiến thức mới, phát triển các kĩ năng hợp tác và tư duy.
Vai trò của GV trong mô hình IBL GV nêu mục đích và lên kế hoạch học tập. GV đề ra kế hoạch cho HS tích cực tham gia vào quá trình học; GV biết những kĩ năng, kiến thức và những thói quen tư duy cần thiết cho IBL; GV hiểu và lên kế hoạch để 15 khuyến khích và làm cho HS có thể nâng cao trách nhiệm trong việc học của mình; GV bảo đảm lớp học được tập trung vào kết quả có liên quan và vận dụng được kết quả đó; chuẩn bị cho những câu hỏi mà HS có thể hỏi và chuẩn bị môi trường học với những công cụ, nguyên liệu và tài liệu liên quan đến sự tích cực của người học. GV tạo điều kiện cho lớp học diễn ra tốt đẹp. Những kế hoạch của GV phải tập trung vào việc lập nội dung học tập; chú ý đến việc nuôi dưỡng sự phát triển thói quen tư duy.