phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài - Chƣơng 2: Phạm vi, nội dung và phƣơng pháp dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Lƣu Quang Vũ (Ngữ Văn 12, tập 2) theo hƣớng tiếp cận liên văn bản - Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm: Dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Lƣu Quang Vũ (Ngữ văn 12, tập 2) theo hƣớng tiếp cận liên văn bản 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lý thuyết liên văn bản 1.1 Nguồn gốc lý thuyết liên văn bản “Thuật ngữ liên văn bản (intertextuality) lần đầu tiên xuất hiện do J.Kristeva sử dụng trong một tham luận về sáng tác của M. Bakhtin đọc tại Xeemina do R.Barthes chủ trì vào mùa thu năm 1966. Mùa thu năm 1967, tham luận đƣợc công bố dƣới dạng một bài báo có nhan đề : Bakhtin, lời nói, đối thoại và tiểu thuyết. Và ngoài ra còn hàng loạt các công trình của J.
Kristeva liên quan trực tiếp đến bài báo này, ví nhƣ “Lời nói đầu” viết cho bản dịch sang tiếng Pháp cuốn Những vấn đề thi pháp Dostoevski (Một nền thi pháp học sụp đổ, 1970), hoặc tuyển tập Semeiotikē. Những công trình nghiên cứu lí thuyết biểu nghĩa (1969) và cuốn Văn bản tiểu thuyết (1970) Dù nhận đƣợc sự ủng hộ nhiệt tình của nhóm “Tel Quel” đứng đầu là Philippe Sollers, lí thuyết liên văn bản của Kristeva, một cô gái Bungaria mới 25 tuổi, đƣợc giới trí thức Pháp ở Paris thời ấy tiếp nhận hết sức dè dặt. Sau này, phải nhờ vào uy tín của R. Barthes, ngƣời hết lòng ủng hộ và phát triển một cách độc đáo – trong cuốn S/Z (1970), và những bài báo, tiểu luận, ví nhƣ Từ tác phẩm đến văn bản (1971), Văn bản (lí luận văn bản) (1973), Khoái cảm văn bản (1973) của ông – những luận điểm cơ bản của lí thuyết liên văn bản mới đƣợc cấp “quyền công dân”, nhập vào đời sống khoa học, trở thành đối tƣợng phân tích và giải thích rộng rãi.
Trƣớc tiên, phải nhấn mạnh, việc phân tích và diễn giải nguyên tắc “đối thoại” của Bakhtin đƣợc Kristeva thực hiện dƣới ánh sáng “triết học đa bội” của chủ nghĩa hậu cấu trúc (J. Deleuze…), cho nên cần chỉ ra sự tƣơng đồng và khác biệt giữa triết học này và triết học của M.” Liên văn bản là một trong những thuật ngữ đƣợc sử dụng nhiều nhất nhƣng đồng thời cũng là một trong những thuật ngữ khó xác định nhất trong lý thuyết văn học nửa sau thế kỷ XX. Kể từ khi đƣợc gọi tên bởi nhà nghiên cứu trẻ ngƣời Pháp gốc Bulgaria, Julia Kristeva vào khoảng những năm 1966-1967, lý thuyết về tính liên văn bản cho đến nay đã có một lịch sử gần nửa thế kỷ. Trong quá trình hình 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành và phát triển, lý thuyết này đã đƣợc sử dụng với nhiều tên gọi khác nhau: Đối thoại, liên ý thức, tiếp xúc văn bản, ngữ cảnh,.Đồng thời cách tiếp cận lý thuyết liên văn bản của mỗi nhà nghiên cứu: triết học, mỹ học và lý luận, phê bình văn học,…lại có những lập trƣờng và lý giải tƣơng đối khác biệt.
Voloshilov sử dụng liên văn bản để nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu ngôn ngữ và văn học, thi pháp học và phƣơng pháp luận xã hội, chống hình thức chủ nghĩa và ngữ nghĩa học mĩ học. Thuật ngữ liên văn bản lần đầu tiên đƣợc J.Kristeva sử dụng (1967) trên cơ sở phân tích quan niệm "tiểu thuyết đa thanh" của M. [1] Liên văn bản theo nghĩa nguyên khởi của thuật ngữ là cơ chế vận hành hiện thực đƣợc văn bản hóa, nằm ngoài ý muốn của tác giả văn bản lại do tâm thức của thế kỉ XX sinh ra. Chính trong thế kỉ này liên văn bản đã trở thành quan niệm trung tâm về một bức tranh thế giới xác định, cụ thể là quan niệm thế giới nhƣ một văn bản, điều này đƣợc thể hiện trong nhiều tác phẩm văn học hiện đại.
Chính khái niệm liên văn bản đã làm thay đổi cả cách nhìn về tính điển phạm, dẫn đến việc lật đổ các hệ thống giá trị cũ, mở ngỏ cho sự lên ngôi của nhiều luồng văn học vốn trƣớc đó bị xem là ngoài lề, thậm chí hoàn toàn bị quên lãng. Tiếp cận liên văn bản xem mỗi sự sinh thành của văn bản là một hiện tƣợng quan hệ, một quá trình kết nối, tƣơng tác, đối thoại của văn bản trong mạng lƣới diễn ngôn xã hội. Văn bản có những mối quan hệ liên văn bản trong mạng lƣới từ cấp độ vi mô đến vĩ mô: kí ức ngôn ngữ, sự biến tấu và tái sinh các thủ pháp, mô-típ, hình tƣợng, sự mô phỏng, nhại, vay mƣợn, trích dẫn, chuyển thể, chuyển dịch, biến đổi, ảnh hƣởng, đọc sai, ám chỉ, đạo văn, pha trộn thể loạiTrong cách tiếp cận này, bất cứ một văn bản nào cũng có tiềm năng trở thành chất liệu của một văn bản khác ra đời sau nó, bất cứ một văn bản nào cũng đƣợc giả thiết là sự đối thoại, chồng xếp, đồng quy vô số văn bản khác nhau. Tiếp cận liên văn bản đòi hỏi ngƣời nghiên cứu tiến dẫn văn bản vào mạng lƣới văn bản xã hội, diễn ngôn ý thức hệ và diễn ngôn tập thể, trong đó bất kì văn bản nghệ thuật nào cũng là kết quả của thực tiễn thƣơng thỏa nghệ thuật, nơi mà những gì biệt lập, cô lập đều bất khả và không có tƣơng lai.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Khái niệm liên văn bản 1.1 Sơ lược về lý thuyết liên văn bản Liên văn bản là một khái niệm đƣợc sử dụng rộng rãi nhất trong giới, phê bình văn học thế giới nửa cuối thể kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI. Có thể nói việc phát hiện ra liên văn bản đã tạo nên một cuộc "cách mạng" trong tƣ duy văn học, thay đổi một cách mạnh mẽ các quan niệm về văn chƣơng. Định nghĩa một cách khái quát và tƣơng đối, ngƣời ta chia ra hai loại liên văn bản: Kinh Điển và Hậu hiện đại. Liên văn bản theo quan niệm kinh điển, biểu hiện bởi sự liên hệ trực tiếp giữa văn bản này và những văn bản khác.
Khái niệm liên văn bản gắn liền với ba tên tuổi Jacques Derrida, Roland Barthes và Julia Kristeva - những lý thuyết gia tiên phong trong trào lƣu giải cấu trúc và phê bình hậu hiện đại. Nếu Jacques Derrida là ngƣời đầu tiên khởi động ý tƣởng "không có gì ngoài văn bản" để manh nha những ý thức phôi thai về vai trò của liên văn bản (intertextuality) thì Roland Barthes mới là kẻ đi đầu trong sự cổ xuý và quảng bá tƣ tƣởng này nhƣ một bƣớc đột phá lớn - đƣa văn học từ điểm nhìn gò bó và tù hãm dựa trên hệ lý thuyết cấu trúc luận (structualism) sang một cách nhìn rộng hơn, sâu hơn và nhiều tự do hơn của lý thuyết giải cấu trúc (deconstruction). Chính văn bản mới là động lực hƣớng dẫn sự hành ngôn chứ không phải chủ thể của hành động hành ngôn - một khi đã bắt đầu, tính chất liên văn bản sẽ khởi động một động hƣớng có tính cách dây chuyền để làm bộc lộ càng lúc càng nhiều thêm những văn bản khác. Kết quả, ngƣời đọc (và cả ngƣời viết) sẽ có một cuộc du hành kỳ thú qua nhiều chặng đƣờng lịch sử, xã hội, tâm lý hay trải nghiệm sự tƣơng tác giữa các nền văn hoá khác nhau.
Khái niệm liên văn bản nảy sinh từ tƣ tƣởng cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại về vai trò tích cực của môi trƣờng văn hóa - xã hội trong quá trình khám phá và tri nhận thế giới. Khái niệm liên văn bản nhắc nhở cho ngƣời đọc nhận biết một cách có ý thức rằng mỗi văn bản tồn tại trong sự liên hệ với văn bản khác, có thể xuất hiện trƣớc hoặc cùng thời. Thực tế văn bản lệ thuộc vào những văn bản khác còn nhiều hơn vào chính ngƣời tạo ra nó. Tính chất này đã đƣợc Michel Foucault, cha đẻ của một trong những trƣờng phái Tân Lịch Sử (New Historicism) thuộc trào lƣu hậu hiện đại nhấn mạnh: "Những biên thuỳ của một cuốn sách không bao giờ rõ ràng, bên kia trang bìa ghi ra tựa đề cuốn sách bắt đầu từ những dòng đầu tiên cho đến khi cuốn sách ngưng 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lại ở dấu chấm cuối cùng, vượt ra ngoài cấu trúc nội tại và hình thức tự thân của cuốn sách ấy" [58, tr.
23] Khái niệm liên văn bản trong trào lƣu hậu hiện đại đã tạo nên một lối đọc mới, lạ và mang tính chất cách mạng khi tiếp cận một văn bản, để thƣởng thức đối với ngƣời thuần tuý biết đọc hay để thẩm định, phân tích dƣới quan điểm của một nhà phê bình. Sẽ không còn biên giới của văn bản, của thể loại, sẽ không còn có bất cứ nghi vấn nào về trong hay ngoài văn bản, ngay cả sự phân biệt giữa văn bản và ngữ cảnh (context) cũng dần dần biến mất khi ứng dụng lý thuyết liên văn bản. Một kịch bản chuyển thể từ tác phẩm văn học sang phim ảnh là một ví dụ minh hoạ điển hình cho sự xoá đi các biên cƣơng của văn bản, hay ngƣợc lại một cuốn sách đƣợc viết sau khi một bộ phim đã trình chiếu. Những lý thuyết gia hậu hiện đại còn cho rằng: văn bản trong bất cứ môi trƣờng nào, không nhất thiết phải là văn bản điện tử (hypertextualtext), đều chứa đựng một đặc tính tƣơng tự; một kịch bản có thể liên hệ đến nhiều văn bản văn học, lịch sử, văn hoá, xã hội hoặc ngƣợc lại.
Khái niệm liên văn bản về cơ bản có thể hiểu: Chiều ngang (chủ thể - ngƣời nhận) và chiều dọc (văn bản - văn cảnh) cùng hiện diện làm sáng tỏ một thực tế quan trọng. Mỗi từ (văn bản) là một giao tuyến của từ (các văn bản) nơi mà ít nhất một từ khác (văn bản khác) có thể đọc đƣợc. Kristeva quy cho văn bản trong giới hạn của hai trục: trục ngang kết nối giữa tác giả và ngƣời đọc văn bản, trục dọc kết nối giữa văn bản với các văn bản khác.6-9] Mọi văn bản đều là liên văn bản ở những cấp độ khác nhau, trong hình thức đƣợc nhận biết ít hay nhiều, bao giờ cũng hiện diện những văn bản khác những văn bản của văn hoá trƣớc đó và những văn bản của văn hoá bao bọc xung quanh.