đặt vấn đề hoặc tạo ra các tình huống có vấn đề để HS có thể phát biểu, nhận dạng vấn đề nảy sinh và xác định vấn đề cần giải quyết + Giải quyết vấn đề: Thầy giáo có thể là người gợi mở, hướng dẫn cho HS suy nghĩ một cách có hệ thống để lập nên một kế hoạch, cân nhắc các phương pháp, gợi ý những khả năng có thể, phác thảo một kế hoạch sẽ thực hiện hoặc đã thực hiện và tiến hành thực hiện kế hoạch đó. Khi giải quyết vấn đề cần xem xét toàn bộ các yếu tố, liên tưởng đến các tình huống, hiện tượng tương tự, liên hệ với những kiến thức vật lý đã được học, những khái niệm vật lý liên quan, tiến hành thí nghiệm, thử nghiệm… + Thảo luận, đề xuất và kết luận: Sau khi đã tiến các bước giải quyết vấn đề HS cần thảo luận kết quả và đánh giá kết quả, từ đó khẳng định hay bác bỏ giả thuyết hoặc đề xuất giả thuyết mới. 11 z + Phát biểu kết luận: Khâu cuối cùng là kiểm định giả thuyết, đưa ra kết luận và ận dụng vào thực tiễn. Để phát huy tính tích cực, chủ động, và năng lực giải quyết vấn đề của HS trong học tập thì tổ chức DHDA là một phương pháp có rất nhiều ưu điểm và phù hợp.
Dạy học dự án 1. Khái niệm dạy học dự án DHDA là một phương pháp dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học định hướng vào người học, định hướng hoạt động và quan điểm dạy học tích hợp. DHDA góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học. Thuật ngữ DA, tiếng Anh là “Project”, có nguồn gốc từ tiếng La tinh là projicere và ngày nay được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế hoạch, trong đó đề án, dự thảo hay kế hoạch này cần được thực hiện nhằm đạt mục đích đề ra.
Khái niệm DA được sử dụng phổ biến trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế-xã hội: trong sản xuất, doanh nghiệp, trong nghiên cứu khoa học cũng như trong quản lý xã hội. Khái niệm DA đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các DA phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như một phương pháp hay hình thức dạy học. Khái niệm Project được sử dụng trong các trường dạy kiến trúc-xây dựng ở Ý từ cuối thế kỷ 16. Từ đó tư tưởng DHDA lan sang Pháp cũng như một số nước châu Âu khác và Mỹ, trước hết là trong các trường đại học và chuyên nghiệp.[20] Trong dạy học dự án, người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu.
Nhiệm vụ này được người học thực hiện 12 z với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế họach, đến việc thực hiện DA, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện. Làm việc nhóm là hình thức cơ bản của DHDA. Đặc điểm của dạy học dự án Các đặc điểm của dạy học sự án được trình bày trong hình 1. Định hướng Cộng thực tiễn tác làm Định việc hướng hứng thú Mang DẠY tính phức HỌC hợp DỰ ÁN Định hướng hành động Tính tự lực cao Định của người hướng học sản phẩm Hình 1.1 Đặc điểm của DHDA [5] Định hướng thực tiễn: Chủ đề của DA gắn với thực tiễn, kết quả DA có ý nghĩa thực tiễn xã hội.
DHDA tạo ra kinh nghiệm học tập thu hút người học vào những DA phức tạp trong thế giới thực và người học sẽ dựa vào đó để phát triển và ứng dụng các kĩ năng và kiến thức của mình. Định hướng hứng thú: Chủ đề và nội dung của DA phù hợp với hứng thú của người học, thúc đẩy mong muốn học tập của người học, tăng cường năng lực hoàn thành những công việc quan trọng và mong muốn được đánh giá. Cơ hội cộng tác với các bạn cùng lớp cũng làm tăng hứng thú học tập của người học. Tính tự lực cao của người học: Người học tham gia tích cực và tự lực vào các tất cả các giai đoạn của quá trình dạy học: đề xuất vấn đề, lập kế hoạch giải quyết vấn đề, giải quyết vấn đề và trình bày kết quả thực hiện.
Định hướng hành động: Kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, huy động 13 z nhiều giác quan. Người học khám phá, giải thích và tổng hợp thông tin một cách ý nghĩa. Định hướng sản phẩm: Đó là những sản phẩm hành động có thể công bố, giới thiệu được. Kết quả DA có thể là bài báo, trình bày, mô hình, thí nghiệm… Có tính phức hợp: Nội dung DA có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc các môn học khác nhau.
DHDA yêu cầu người học sử dụng thông tin của nhiều môn học khác nhau để giải quyết vấn đề. Cộng tác làm việc: Các DA học tập thường được thực hiện theo nhóm, việc học mang tính xã hội. DHDA thúc đẩy sự cộng tác giữa người học với GV và giữa người học với nhau. Nhiều khi, sự cộng tác được mở rộng đến cộng đồng.
Phân loại dự án * Phân loại theo môn học Trọng tâm nội dung nằm trong một môn học hay một số môn học ngoài chuyên môn. * Phân loại theo sự tham gia của người học Cá nhân, nhóm HS, một lớp học hay một khối lớp. * Phân loại theo sự tham gia của GV DA dưới sự hướng dẫn của một GV hay sự cộng tác của nhiều GV * Phân loại theo quỹ thời gian - DA nhỏ: thực hiện trong một số giờ học ( 2 đến 6 giờ ). - DA trung bình: thực hiện trong một số ngày ( giới hạn trong một tuần hoặc 40 giờ học ).
- DA lớn: thực hiện với quỹ thời gian lớn, có thể kéo dài nhiều tuần ( trong đào tạo đại học có thể quy định quỹ thời gian lớn hơn ). * Phân loại theo nhiệm vụ - DA tìm hiểu ( khảo sát thực trạng đối tượng ). - DA nghiên cứu ( giải quyết vấn đề, giải thích hiện tượng ). 14 z - DA kiến tạo ( tạo ra sản phẩm vật chất hành động thực tiễn như trưng bày, biểu diễn.
) Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi sử dụng loại DA theo nhóm và là DA trung bình dưới sự hướng dẫn của GV. Để DHDA đạt hiệu quả thì GV phải chú ý đến những yêu cầu riêng của phương pháp dạy học này. Yêu cầu của dạy học dự án Trong DHDA, nếu hoạt động dạy học được GV thiết kế cẩn thận sẽ lôi cuốn HS vào những nhiệm vụ mở và có tính thực tiễn cao. Các nhiệm vụ của DA kích thích khả năng ra quyết định, niềm cảm hứng, say mê của HS trong quá trình thực hiện và tạo ra sản phẩm cuối cùng.
HS lĩnh hội kiến thức bài học thông qua việc tìm hiểu và tự quyết định mức độ hoàn thành các nhiệm vụ của DA. GV giữ vai trò người hỗ trợ hay hướng dẫn. HS hợp tác làm việc với nhau trong các nhóm, phát huy tối đa năng lực cá nhân khi đảm nhận những vai trò khác nhau. * DA tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với các chuẩn kiến thức, kĩ năng và tập trung vào những hiểu biết của HS sau quá trình học.
Từ việc định hướng vào mục tiêu, GV sẽ lựa chọn hình thức dạy học phù hợp, lập kế hoạch đánh giá và tổ chức các hoạt động dạy và học. Kết quả của DA được thể hiện kết tinh trong sản phẩm của HS và quá trình thực hiện nhiệm vụ, ví dụ phần thuyết trình đầy thuyết phục hay ấn phẩm thông tin thể hiện sự lĩnh hội các chuẩn nội dung và mục tiêu dạy học. * Trong DHDA cần phải xác định được bộ câu hỏi định hướng. Câu hỏi định hướng sẽ giúp các DA tập trung vào những hoạt động dạy học trọng tâm, chú trọng đến các chủ đề quan trọng, đồng thời hướng HS đến những kĩ năng tư duy ở mức độ cao hơn và đảm bảo các DA của HS có tính hấp dẫn, thuyết phục.
HS được giới thiệu về DA thông qua các câu hỏi gợi mở những ý tưởng lớn, xuyên suốt và có tính liên môn. HS sẽ buộc phải tư duy sâu hơn về các vấn đề nội dung của môn học theo các chuẩn và mục tiêu. 15 z + Có ba dạng câu hỏi định hướng: câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học và câu hỏi nội dung. - Câu hỏi khái quát là các câu hỏi rộng, có tính mở, đề cập đến các ý tưởng lớn và các khái niệm xuyên suốt.
Câu hỏi loại này thường mang tính liên môn, giúp HS hiểu được mối liên hệ giữa các môn học. HS có thể có rất nhiều câu trả lời thuộc phạm vi nhiều môn học. Câu hỏi khái quát gợi mở hướng nghiên cứu chứ không dẫn tới những kết luận sớm hay những câu hỏi trả lới mơ hồ. - Các câu hỏi bài học cũng là những câu hỏi mở nhưng bó hẹp trong một chủ đề hay được gắn trực tiếp với DA, hỗ trợ việc tìm kiếm lời giải cho câu hỏi khái quát.
Các câu hỏi bài học thể hiện mức độ hiểu những khái niệm cốt lõi về DA của HS, được thiết kế nhằm khuyến khích và duy trì hứng thú của HS. Câu hỏi bài học định hướng một bộ các bài học cụ thể, chúng được thiết kế để chỉ ra và khai thác những câu khái quát thông qua chủ đề. - Câu hỏi nội dung thường mang tính thực tiễn cao, bám sát các chuẩn và mục tiêu đã đề ra, trực tiếp hỗ trợ việc dạy và học các kiến thức cụ thể, có những câu trả lời đúng cho mỗi câu hỏi. Thông thường đây là những câu hỏi liên quan đến các định nghĩa, nhận diện thông tin đã biết, nói chung là nhớ lại nội dung bài học.
Với câu hỏi nội dung thì câu trả lời là duy nhất đúng. * DA có liên hệ với thực tế: DA phải gắn với đời sống thực tế của HS. HS thể hiện việc học của mình trước những đối tượng thực tế, liên hệ với các nguồn lực cộng đồng, tham khảo các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cưú, hoặc trao đổi thông qua công nghệ hiện đại. * HS thể hiện sự hiểu biết của mình thông qua sản phẩm hoặc quá trình thực hiện.