mở đầu là sự tiếp thu kiến thức thông qua lời nói của giáo viên, sách vở, kể cả tài liệu khái quát hoá. Giữa hai con đường đó phải có mối quan hệ chặt chẽ. Nhưng tính cho đến cùng thì cả kiến thức khái quát cũng phải dựa trên những cảm giác, tri giác, biểu tượng mà học sinh tiếp thu được từ kinh nghiệm cuộc sống của họ” Kiến tạo cơ bản quan niệm quá trình nhận thức là quá trình học sinh thích nghi với môi trường thông qua các hoạt động điều ứng và đồng hoá. Nhưng quá trình này không phải là sự sắp xếp một cách cơ học các kiến thức đã có và các kiến thức mới, mà bao gồm quá trình chủ thể nhận thức suy nghĩ, để loại bỏ những tri thức cũ không phù hợp nữa, chọn lọc những tri thức mới, đúng và phù hợp.
Do vậy tri thức mới được hình thành bao gồm cả quá trình loại bỏ, kế thừa và phát triển các quan niệm sẵn có của học sinh hay nói cách khác, quá trình nhận thức của học sinh là quá trình thích nghi và tiến hoá. Kiến tạo cơ bản có hai nguyên tắc: • Kiến thức không được tiếp nhận một cách thụ động mà được xây dựng một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức; • Chức năng của nhận thức là thích nghi và tổ chức lại thế giới quan của chính mỗi người, không phải là khám phá một thế giới độc lập tồn tại ngoài ý thức của chủ thể. Qua phân tích trên, chúng tôi nhận thấy ưu điểm của kiến tạo cơ bản là chỉ ra cách thức cơ bản để người học xây dựng nên tri thức cho bản thân trong quá trình học tập. Tuy nhiên lại tồn tại nhược điểm là nếu như coi trọng quá mức vai trò của cá nhân trong quá trình nhận thức, tức là đã đặt học sinh trong tình trạng cô lập, làm mất đi sự xung đột mang tính xã hội trong nhận thức.
Do vậy kiến thức được tạo dựng thiếu đi tính xã hội, đây chính là điểm tồn tại của kiến tạo cơ bản. Kiến tạo xã hội Kiến tạo xã hội là lý thuyết về nhận thức dựa trên các luận điểm của học thuyết Lịch sử văn hoá về sự phát triển các chức năng tâm lý cấp cao của L. Các nhà kiến tạo xã hội cho rằng, người học cũng như bản thân tri thức được sinh ra và phát triển trong một bối cảnh xã hội nhất định, do đó chịu tác động sâu sắc bởi lịch sử, văn hóa chung toàn nhân loại cũng như bản sắc riêng của mỗi cộng đồng, gia đình. Xuất phát từ lịch sử ra đời của tri thức toán học, các nhà kiến tạo xã hội cho rằng toán học là một sự kiến tạo xã hội, là một sản phẩm của văn hóa.
Paul Ernest [42, tr.42] cho rằng: “Lý thuyết kiến tạo xã hội xem toán học là một sản phẩm của sự kiến tạo xã hội. Nó hướng tới một quy ước trong sự chấp thuận rằng ngôn ngữ con người, những quy tắc và sự tán đồng đóng vai trò như một chìa khóa thiết lập và điều chỉnh tính hiệu lực của các chân lí toán học. Lý do để mô tả kiến thức toán học như là một kiến tạo xã hội và để chấp nhận tên gọi này là như sau: • Cơ sở của kiến thức toán học là kiến thức, các quy ước, các quy tắc ngôn ngữ, mà ngôn ngữ là một kiến tạo xã hội; • Các quan hệ xã hội giữa các cá nhân với nhau là yêu cầu cần có để chuyển kiến thức toán học chủ quan của một cá nhân, sau khi xuất bản thành kiến thức toán học khách quan đã được chấp nhận; • Chính tính khách quan được hiểu là có tính xã hội. Lý thuyết kiến tạo cũng cho rằng tất cả các tri thức đều nhất thiết là một sản phẩm của những hoạt động nhận thức của chính chúng ta.
Bằng cách xây dựng trên những kiến thức đã kiến tạo được, học sinh có thể nắm bắt tốt hơn các khái niệm và có thể đi từ nhận biết sự vật sang hiểu nó. Kiến thức được kiến tạo khuyến khích tư duy phê phán, cho phép học sinh tích hợp được các khái niệm theo nhiều cách khác nhau. Khi đó học sinh có thể trình bày khái niệm, kiểm chứng, bảo vệ và phê phán các khái niệm được xây dựng. Kiến thức và trải nghiệm của học sinh là “những kiến thiết xã hội” được nội thu, là - 13 - z kết quả của tương tác xã hội, trải nghiệm và quá trình tham gia vào hoạt động”.
Theo Paul Ernest (dẫn theo [40, tr.129]), kiến tạo xã hội có bốn nguyên tắc: • Tri thức cá nhân mà kết quả từ việc tổ chức lại thế giới quan của chính bản thân phải “phù hợp” với các yêu cầu của tự nhiên và thực trạng xã hội đặt ra; • Người học đạt tri thức mới bởi chu trình nhận thức: dự đoán - kiểm nghiệm - thất bại - thích nghi - tri thức mới; • Quy trình đó sẽ đưa đến những lý thuyết được xã hội công nhận về thực tiễn tự nhiên và xã hội cùng các nguyên tắc về ngôn ngữ được sử dụng; • Toán học là lý thuyết về hình thái và cấu trúc được nảy sinh từ trong ngôn ngữ. Kiến tạo xã hội coi kiến thức là một sản phẩm được tạo dựng bởi văn hóa và xã hội của nhân loại, học là một quá trình xã hội. Giáo viên dạy học kiến tạo không chỉ quan sát, động viên mà còn tổ chức hợp tác, giúp đỡ học sinh trong quá trình học tập. Lý thuyết kiến tạo xã hội nhấn mạnh đến tầm quan trọng của ngữ cảnh.
Có hai khía cạnh xã hội ảnh hưởng đến mức độ học tập. Đầu tiên, các hệ thống thu hút người học từ nền văn hóa, chẳng hạn như ngôn ngữ, việc sử dụng hệ thống toán học và logic, phát triển trong suốt cuộc sống. Thứ hai, tương tác xã hội với những người khác hiểu biết hơn là cần thiết để học sinh đạt được, tiếp thu và hiểu ý nghĩa các hệ thống biểu tượng (đặc biệt là ngôn ngữ) được sử dụng trong cộng đồng và có khả năng sử dụng chúng một cách hiệu quả. Các kỹ năng tư duy sẽ phát triển ở học sinh nếu họ tương tác với những người xung quanh.
Một số đặc điểm cơ bản của việc học tập theo lý thuyết kiến tạo Những kết quả nghiên cứu về lý thuyết kiến tạo đã chỉ ra các đặc điểm sau đây: - 14 - z • Tri thức được lĩnh hội trong học tập là một quá trình và sản phẩm kiến tạo theo từng cá nhân thông qua tương tác giữa học sinh và nội dung học tập; • Về mặt nội dung, dạy học phải định hướng theo những lĩnh vực và vấn đề phức hợp, gần với cuộc sống, được khảo sát một cách tổng thể; • Việc học tập chỉ có thể được thực hiện trong một quá trình tích cực, vì chỉ từ những kinh nghiệm và kiến thức mới của bản thân thì mới có thể thay đổi và cá nhân hóa những kiến thức và khả năng đã có; • Học tập trong nhóm có ý nghĩa quan trọng, thông qua tương tác xã hội trong nhóm góp phần cho người học tự điều chỉnh sự học tập của bản thân; • Học qua sai lầm là điều rất có ý nghĩa; • Nội dung học tập cần định hướng vào sự hứng thú của học sinh, vì có thể học hỏi dễ nhất từ những nội dung mà người ta cảm thấy hứng thú hoặc có tính thách thức; • Thuyết kiến tạo không chỉ giới hạn ở những khía cạnh nhận thức của việc dạy và học. Sự học tập hợp tác đòi hỏi và khuyến khích phát triển không chỉ có lý trí, mà cả về mặt tình cảm, giao tiếp; • Mục đích học tập là xây dựng kiến thức của bản thân, nên khi đánh giá các kết quả học tập không định hướng theo các sản phẩm học tập, mà cần kiểm tra những tiến bộ trong quá trình học tập. Từ những đặc điểm của lý thuyết kiến tạo chúng ta có các quan điểm và vận dụng trong học tập nói chung và bộ môn Toán nói riêng như sau: • Học sinh phải là chủ thể tích cực kiến tạo nên kiến thức cho bản thân mình, dựa trên tri thức hoặc kinh nghiệm có từ trước, chỉ khi nào tạo nên mối quan hệ hữu cơ giữa kiến thức mới và cũ, sắp xếp kiến thức mới vào cấu trúc hiện có hoặc thay đổi cho phù hợp thì quá trình học tập mới có ý nghĩa; • Học tập của cá nhân không phải là hoạt động thụ động mà là hoạt động tích cực, tức là, cá nhân hành động trong môi trường để xây dựng kiến thức; • Quá trình xây dựng kiến thức là quá trình phát triển và tiến hóa, nó không phải là quá trình tĩnh mà là quá trình động; - 15 - z • Kiến thức có thể được hình thành thông qua quá trình ảnh hưởng giữa việc học tập trước đó và liên quan với việc học tập mới. Trong quá trình học tập, học sinh có thể sáng tạo kiến thức bằng cách tự mình tích cực sử dụng kinh nghiệm hiện có để giải quyết bất kỳ mâu thuẫn có thể phát sinh, từ đó đạt được một sự hiểu biết chung với các thông tin mới; • Học sinh đạt được kiến thức mới theo quá trình: Tri thức đã có - dự đoán - kiểm nghiệm - (thất bại) - thích nghi - tri thức mới.
Trong quá trình này học sinh thông qua trải nghiệm từ những kiến thức đã có, học sinh sẽ có được những dự đoán về về tri thức mới, những dự đoán này được kiểm nghiệm. Nếu kiểm nghiệm thành công thì củng cố niềm tin vào tri thức mới. Nếu kiểm nghiệm thất bại thì học sinh phải điều chỉnh lại việc dự đoán và quá trình lại tiếp tục cho đến khi kiểm nghiệm thành công và thu được tri thức mới. Nhằm vận dụng các quan điểm nêu trên, để xác định các hình thức học trên cơ sở vận dụng lý thuyết kiến tạo, chúng tôi đã dựa trên bốn giả thuyết sau về việc học: Học trong hành động, qua xử lý các tình huống học tập: Điều đầu tiên trong việc kiến tạo kiến thức là hoạt động trí tuệ của người học.
Giả thuyết này có nguồn gốc từ cơ sở tâm lý học của thuyết kiến tạo. Học là hoạt động thích ứng của người học. Do đó dạy học phải là dạy hoạt động, tổ chức các tình huống học tập đòi hỏi sự thích ứng của học sinh, qua đó học sinh kiến tạo được kiến thức, đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách của mình.