Tổng quan nghiên cứu

Trong hệ thống giáo dục nghệ thuật chuyên nghiệp, môn Đàn phím điện tử giữ vai trò hạt nhân nhằm hình thành kỹ năng thực hành âm nhạc cho giáo viên tương lai. Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán nâng cao chất lượng đào tạo chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc hệ Trung cấp tại Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thái Bình. Được nâng cấp và thành lập theo Quyết định số 7327/QĐ-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo vào năm 2005 trên nền tảng hơn 40 năm xây dựng từ năm 1975, nhà trường đã đào tạo 14 khóa Trung cấp Sư phạm Âm nhạc với tỷ lệ tốt nghiệp đạt 96% và tỷ lệ khá giỏi dao động từ 55% đến 60%.

Tuy nhiên, chương trình đào tạo hiện hành kéo dài 2 năm với quy mô 23 môn học, tương đương 2.832 tiết. Mặc dù khối lượng chuyên ngành chiếm tới 2.112 tiết (khoảng 75% tổng thời lượng), môn Đàn phím điện tử chỉ được bố trí 60 tiết theo hình thức phân bổ 3 học sinh trong một tiết học 45 phút. Thực trạng này dẫn đến việc người học thiếu hụt thời gian rèn luyện kỹ năng cá nhân, gặp lúng túng khi thực hành đệm hát và dàn dựng văn nghệ tại các trường phổ thông. Mục tiêu cốt lõi của đề tài là khảo sát toàn diện thực trạng giảng dạy từ năm 2015 đến năm 2017, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp sư phạm đột phá áp dụng cho học viên Khóa 6 giai đoạn 2015 - 2018. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn, góp phần chuẩn hóa năng lực thị phạm và kỹ năng ứng biến nhạc cụ cho hơn 70% giáo sinh khi ra trường công tác.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được thiết lập dựa trên sự giao thoa của các lý thuyết giáo dục học hiện đại và lý luận phương pháp dạy học âm nhạc chuyên sâu. Luận văn vận dụng quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm của các nhà sư phạm kết hợp với nguyên lý tiến hành bè và xây dựng công năng hòa thanh trong âm nhạc. Hệ thống khái niệm then chốt bao gồm:

  1. Đàn phím điện tử (Electronic Keyboards): Nhạc cụ xuất phát từ phát minh sóng Martenot năm 1928 của kỹ sư Maurice Martenot, dải âm từ cực nhỏ đến cực to, sử dụng công nghệ xử lý tín hiệu số DSP với kết cấu 61 hoặc 88 phím, tích hợp từ 200 đến 600 âm sắc mô phỏng đa dạng nhạc cụ truyền thống và hiện đại.
  2. Phương pháp dạy học đàn phím điện tử: Tổ hợp có cấu trúc gồm các biện pháp thị phạm, dùng lời, sử dụng phương tiện trực quan và rèn luyện kỹ xảo nhằm hình thành phản xạ ngón và tư duy diễn tấu.
  3. Hòa âm đệm hát: Nghệ thuật liên kết các hợp âm ba, hợp âm bảy theo các quy luật hòa thanh để nâng đỡ giai điệu, định hình phong cách và tạo cấu trúc hoàn chỉnh cho tác phẩm âm nhạc học đường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp phong phú để đảm bảo tính khách quan và khoa học:

  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Khảo sát trực tiếp mẫu nghiên cứu gồm 50 học sinh đang theo học hệ Trung cấp Sư phạm Âm nhạc và toàn bộ 4 giảng viên tham gia giảng dạy bộ môn Đàn phím điện tử tại nhà trường. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng được lựa chọn vì tính chất đặc thù của chuyên ngành nghệ thuật, phản ánh chính xác đặc điểm xã hội học khi có tới 90% học sinh xuất thân từ nông thôn với nền tảng cơ xương tay lao động cứng cáp.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu để phân tích chương trình khung 2004, kết hợp phương pháp quan sát dự giờ bấm giờ chi tiết từng phân đoạn trong tiết dạy 45 phút. Phương pháp điều tra bảng hỏi và phỏng vấn sâu giúp thu thập dữ liệu định lượng và định tính về động cơ học tập. Phương pháp thực nghiệm sư phạm đối chứng được triển khai nhằm kiểm chứng độ tin cậy của các bài tập luyện ngón Hanon và Etude Czerny Op. 636.
  • Timeline nghiên cứu: Toàn bộ quá trình thu thập tư liệu, khảo sát thực địa và phân tích số liệu diễn ra từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 12 năm 2017 trong khuôn khổ khóa đào tạo thạc sĩ 2015 - 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực tế tại Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thái Bình đã chỉ ra 4 phát hiện cốt lõi:

  1. Phân hóa năng lực đầu vào và kết quả học tập: Trong tổng số 50 học sinh được điều tra, tỷ lệ học lực giỏi chỉ chiếm 10% (5 học sinh), học lực khá đạt 20% (10 học sinh), trong khi học lực trung bình khá chiếm 40% (20 học sinh) và trung bình chiếm 30% (15 học sinh). Đáng chú ý, trên 90% học sinh chưa từng tiếp xúc với đàn phím trước khi nhập học, dẫn đến việc giải phóng khớp ngón và tiếp thu kỹ thuật gam gặp nhiều trở ngại.
  2. Bất cập trong cơ cấu đội ngũ giảng viên: Trong tổng số 4 giảng viên đảm nhận môn Đàn phím điện tử, chỉ có 1 giảng viên được đào tạo đúng chuyên ngành đàn phím, chiếm tỷ lệ 25%. Có 1 giảng viên chuyên ngành Accordeon chuyển sang và 2 giảng viên thỉnh giảng, dẫn đến việc chưa đồng bộ về kỹ thuật diễn tấu và phương pháp sư phạm hiện đại.
  3. Sự nghèo nàn về học liệu và quy trình tiết dạy: Khoảng 80% thời lượng giờ dạy hiện tại vẫn duy trì lối truyền ngón một chiều, giảng viên làm mẫu thị phạm chiếm hơn 50% thời gian của tiết học 45 phút. Giáo trình chủ yếu dựa vào các tập bài cũ, thiếu vắng các tài liệu chuẩn quốc tế như Hanon Virtuoso Pianist hay hệ thống bài tập đặt hòa thanh cho ca khúc thiếu nhi.
  4. Cơ sở vật chất hạn chế: Toàn khoa chỉ có 6 đàn phím điện tử, 2 đàn piano cơ và 2 đàn piano điện tử. Sự thiếu hụt này khiến 100% học sinh không đủ thời lượng tự luyện tập ngoài giờ lên lớp nếu không có điều kiện tự trang bị nhạc cụ cá nhân.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những tồn tại trên xuất phát từ sự nén ép chương trình đào tạo trung cấp trong 2 năm với 2.832 tiết học, trong khi môn Đàn phím điện tử chỉ có 60 tiết. Việc chia nhóm 3 học sinh trên một tiết khiến mỗi cá nhân chỉ có khoảng 10 đến 15 phút tương tác thực tế với giảng viên.

Dữ liệu nghiên cứu khi được biểu diễn trên biểu đồ cột phân bổ học lực cho thấy sự lệch chuẩn rõ rệt về phía nhóm trung bình và trung bình khá (chiếm tổng cộng 70%), phản ánh đúng tính chất đào tạo diện rộng nhưng thiếu chiều sâu chuyên xảo. Khi đối chiếu với các nghiên cứu tương đồng tại các cơ sở đào tạo sư phạm âm nhạc ở Hà Nội hay Bạc Liêu, vấn đề thiếu kỹ năng hòa âm đệm hát là điểm nghẽn phổ biến. Nếu không tích hợp lý thuyết hòa thanh trực tiếp lên bàn phím, sinh viên khi tốt nghiệp chỉ có thể đóng vai trò tổ chức mà không thể tự đệm đàn cho các hoạt động văn nghệ trường học, làm suy giảm hiệu quả giáo dục âm nhạc học đường.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực tiễn, tác giả đưa ra 5 nhóm giải pháp đồng bộ:

  1. Tái cấu trúc nội dung và tích hợp liên môn: Khoa Sư phạm và Tổ bộ môn tiến hành kết nối môn Lý thuyết âm nhạc cơ bản, Hòa âm với Đàn phím điện tử thành chuỗi logic thống nhất. Bổ sung ngay 60 bài tập ngón Hanon và các khúc luyện Etude Czerny Op. 636 vào giáo trình chính khóa trong vòng 6 tháng nhằm nâng tỷ lệ học sinh nắm vững kỹ thuật ngón lên trên 85%.
  2. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực: Giảng viên chuyển đổi mô hình từ thị phạm thụ động sang phương pháp dạy học nêu vấn đề và tổ chức học nhóm nhỏ có phân hóa trình độ. Tối ưu hóa 45 phút trên lớp để tăng 30% thời lượng cho học sinh tự phân tích tác phẩm và tự tìm hòa âm dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
  3. Chuẩn hóa quy trình dạy đệm và đặt hợp âm ca khúc: Tổ Âm nhạc biên soạn cẩm nang hướng dẫn đặt hợp âm và soạn câu dạo đầu, dạo giữa, dạo kết cho 100 ca khúc thuộc chương trình âm nhạc Tiểu học và Trung học cơ sở, triển khai áp dụng liên tục trong 2 học kỳ của năm thứ hai.
  4. Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất phòng tự học: Ban Giám hiệu nhà trường phê duyệt kế hoạch trang bị thêm từ 10 đến 15 đàn phím điện tử thế hệ mới sử dụng công nghệ DSP, mở cửa phòng tự luyện ngoài giờ có kết nối Internet để đảm bảo 100% học sinh được luyện tập tối thiểu 2 giờ mỗi ngày trong lộ trình 12 tháng.
  5. Cải tiến hình thức kiểm tra đánh giá: Phòng Đào tạo thiết lập bảng tiêu chí rubrics đánh giá toàn diện gồm: kỹ thuật gam và ngón (30%), khả năng phân tích hòa âm và đệm ứng biến (50%), kỹ năng thị tấu và phong cách biểu diễn (20%), áp dụng ngay từ kỳ thi kết thúc học phần tiếp theo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng trong hệ thống giáo dục nghệ thuật:

  1. Giảng viên chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc: Khai thác khung bài giảng tích hợp giữa kỹ thuật ngón Hanon, Czerny với các bước thị phạm hiện đại hóa, ứng dụng trực tiếp vào việc giảng dạy các lớp nhạc cụ phím hệ trung cấp và cao đẳng.
  2. Sinh viên và học sinh ngành Sư phạm Âm nhạc: Sử dụng tài liệu như một cẩm nang tự học để nắm vững các thế bấm hợp âm, phương pháp điều khiển tính năng tự động của đàn phím và kỹ thuật tự soạn phần đệm cho ca khúc thiếu nhi.
  3. Cán bộ quản lý chương trình đào tạo tại các trường Văn hóa Nghệ thuật: Tham khảo mô hình phân bổ thời lượng 60 tiết thực hành nhóm nhỏ, cân đối khối kiến thức 2.832 tiết toàn khóa và xây dựng tiêu chuẩn trang thiết bị phòng nhạc cụ.
  4. Giáo viên âm nhạc tại các trường phổ thông: Vận dụng các nguyên tắc đặt hợp âm và mẹo xử lý âm sắc DSP để tự tin đệm đàn trong các tiết dạy hát, hoạt động ngoại khóa và dàn dựng hội diễn văn nghệ học đường.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao học sinh Trung cấp Sư phạm Âm nhạc thường gặp khó khăn lớn về kỹ thuật ngón tay khi mới nhập học? Do có tới 90% học sinh xuất thân từ khu vực nông thôn, quen lao động chân tay và bắt đầu học đàn ở độ tuổi 17 - 18 khi hệ cơ xương bàn tay đã phát triển cứng cáp. Khác với người học năng khiếu từ 6 tuổi, nhóm đối tượng này cần hệ thống bài tập nắn ngón chuyên biệt như 60 bài tập Hanon để giải phóng khớp ngón và tạo độ dẻo dai cần thiết.

Thời lượng môn Đàn phím điện tử chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong chương trình đào tạo 2 năm? Trong tổng số 23 môn học với 2.832 tiết toàn khóa, môn Đàn phím điện tử được phân bổ 60 tiết thực hành. Do lớp học chia thành các nhóm 3 học sinh cho một tiết 45 phút, mỗi cá nhân thực tế chỉ có khoảng 30 tiết học tương tác trực tiếp với giảng viên để rèn luyện kỹ năng cá nhân.

Biện pháp nào giải quyết tình trạng học sinh không có nhạc cụ riêng để tự luyện tập tại nhà? Nhà trường cần thiết lập phòng thực hành tự học ngoài giờ với quy mô tối thiểu từ 6 đến 10 cây đàn phím điện tử, kết hợp phân nhóm đôi bạn cùng tiến. Mô hình này giúp học sinh luân phiên luyện tập 2 giờ mỗi ngày, bù đắp sự thiếu hụt trang thiết bị cá nhân tại gia đình.

Phương pháp dạy học nêu vấn đề được áp dụng trong môn đàn phím thực hành như thế nào? Thay vì giảng viên đánh mẫu toàn bộ bài để học trò sao chép thụ động, người dạy đặt ra vấn đề như yêu cầu học sinh tự xác định giọng điệu, chọn điệu thức tiết tấu phù hợp trên đàn và thử nghiệm đặt hòa thanh cho từng câu nhạc. Cách làm này kích thích tư duy độc lập và năng lực ứng biến của người học.

Làm thế nào để học sinh vừa đàn vừa hát thuần thục các ca khúc trong chương trình trường học? Học sinh cần thực hiện theo quy trình 3 giai đoạn: hát chuẩn xác cao độ tiết tấu của bài hát, luyện bấm trơn tru vòng hòa thanh tay trái theo bộ đệm tự động, sau đó kết hợp ghép hai tay và tập hát ở nhịp độ chậm trước khi tăng dần về tốc độ chuẩn của tác phẩm như bài ca đi học.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về vị trí chiến lược của môn Đàn phím điện tử trong đào tạo giáo viên âm nhạc phổ thông.
  • Phân tích chân thực bức tranh thực trạng tại Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Thái Bình qua khảo sát 50 học sinh, chỉ ra tỷ lệ khá giỏi hiện chỉ đạt 30%.
  • Nhận diện chính xác các rào cản về cơ sở vật chất với 6 cây đàn phím và sự thiếu hụt tài liệu kinh điển trong thời lượng 60 tiết thực hành.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện, nổi bật là tích hợp bài tập ngón Hanon, Czerny Op. 636 và đổi mới phương pháp dạy học nêu vấn đề.
  • Hoàn thiện quy trình hướng dẫn đặt hợp âm và biên soạn phần đệm hoàn chỉnh cho 100 ca khúc học đường bậc tiểu học và trung học cơ sở.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp giải pháp sư phạm có tính ứng dụng cao, khắc phục triệt để tình trạng học thụ động của học sinh trung cấp sư phạm. Trong lộ trình giai đoạn 2018 - 2020, nhà trường cần nhanh chóng thể chế hóa các đề xuất vào chuẩn đầu ra và nhân rộng mô hình thực nghiệm cho các khóa tiếp theo. Các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật toàn quốc hãy chủ động tham khảo và áp dụng các sáng kiến này nhằm kiến tạo đội ngũ giáo viên âm nhạc vững chuyên môn, giỏi thực hành cho nền giáo dục nước nhà.