phần Mở đầu; Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở khoa học của đề tài. Tổ chức dạy học truyện thần thoại và sử thi cho học sinh lớp 10 theo hƣớng phát triển năng lực. Thực nghiệm sƣ phạm 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.
Những vấn đề chung về năng lực và dạy học theo hướng phát triển năng lực 1. Năng lực và phân loại năng lực Một trong những xu thế chung của chƣơng trình giáo dục phổ thông hiện nay là dạy học theo hƣớng hình thành và phát triển năng lực cho ngƣời học. Khái niệm năng lực (tiếng Anh: Competence, Ability…) đƣợc sử dụng với nhiều nghĩa, gắn với nhiều lĩnh vực, tình huống và ngữ cảnh riêng biệt. Có rất nhiều chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục đã cố gắng định nghĩa khái niệm năng lực.
Nhìn chung, khái niệm năng lực gắn liền với khả năng hành động và thực hiện, nó là điểm hội tụ của nhiều yếu tố nhƣ kiến thức, kĩ năng, thái độ, kĩ xảo, kinh nghiệm và sự sẵn sàng hành động. Theo quan điểm của Bernd Meimer: “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng nhƣ sự sẵn sàng hành động” [2].E Weinert cho rằng: “ Năng lực là những khả năng và kỹ xảo học đƣợc hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng nhƣ sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [1].Coolahan lại cho rằng, năng lực đƣợc hiểu là “những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hƣớng của một con ngƣời đƣợc phát triển thông qua thực hành giáo dục” [16]. Theo John Erpenbeck, “năng lực đƣợc tri thức làm cơ sở, đƣợc sử dụng nhƣ khả năng, đƣợc quy định bởi giá trị, đƣợc tăng cƣờng qua kinh nghiệm và đƣợc hiện thực hoá qua ý chí” [1]. Chƣơng trình giáo dục phổ thông của New Zealand nêu một cách ngắn gọn: “Năng lực là một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự 9 phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó” [16].
Chƣơng trình giáo dục của Canada cho rằng: “Năng lực có thể định nghĩa nhƣ là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này đƣợc sử dụng một cách khá phù hợp, bao gồm tất cả những gì học đƣợc từ nhà trƣờng cũng nhƣ những kinh nghiệm của học sinh; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài nhƣ bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác” [42]. Chƣơng trình giáo dục phổ thông của Indonesia lại xác định rằng: “Năng lực là những kiến thức, kĩ năng và giá trị đƣợc phản ánh trong thói quen, suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân. Thói quen tƣ duy và hành động kiên trì liên tục có thể giúp một ngƣời trở nên có năng lực, với ý nghĩa làm một việc gì đó trên cơ sở có kiến thức, kĩ năng và các giá trị cơ bản [16].
Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, năng lực đƣợc định nghĩa là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một loạt hoạt động nào đó; Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lƣợng cao” [19]. Chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể của Việt Nam (2017) xác định: “Năng lực là thuộc tính cá nhân đƣợc hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con ngƣời huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác nhƣ hứng thú, niềm tin, ý chí… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [6]. Việc phân loại năng lực là một vấn đề rất phức tạp, phụ thuộc vào quan điểm và tiêu chí phân loại. Chƣơng trình giáo dục đƣợc thiết kế theo năng lực của các nƣớc phân loại năng lực thành hai loại chủ yếu: năng lực chung (general competence) và năng lực chuyên biệt (specific competence).
Năng lực chung đƣợc hiểu là những năng lực cơ bản, thiết yếu để con ngƣời có thể sống và làm việc bình thƣờng trong xã hội. Nó cho thấy khả năng sử dụng linh hoạt các phƣơng tiện thông tin, phƣơng tiện giao tiếp và phƣơng tiện làm việc; khả năng 10 tƣơng tác trong xã hội và khả năng hành động một cách tự chủ. Các năng lực chung đƣợc hình thành và phát triển trong quá trình học tập và tiếp thu từ các hoạt động học tập trong nhiều môn học và hoạt động học tập nhƣ: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Theo quan niệm của chƣơng trình giáo dục Châu Âu, mỗi năng lực chung cần đáp ứng đƣợc ba yếu tố: Một là, góp phần tạo nên kết quả có giá trị cho xã hội và cộng đồng xung quanh; Hai là, giúp cho các cá nhân đáp ứng đƣợc những đòi hỏi của bối cảnh xã hội rộng lớn và phức tạp; Ba là, đóng vai trò quan trọng với tất cả mọi ngƣời.
Năng lực chuyên biệt đƣợc hiểu là những năng lực cụ thể trong một lĩnh vực nhất định, đƣợc hình thành và phát triển trong quá trình học tập một môn học nào đó: năng lực tính toán, năng lực ngôn ngữ, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất… Nếu nhƣ các năng lực chung đƣợc coi là những năng lực cơ bản, thiết yếu để con ngƣời thích nghi và tồn tại trong xã hội thì các năng lực chuyên biệt này lại thuộc về năng khiếu của từng ngƣời. Việc xác định đƣợc các năng lực chuyên biệt sẽ góp phần phát hiện, bồi dƣỡng năng khiếu của mỗi cá nhân, đáp ứng nhu cầu dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực và dạy học phân loại theo đối tƣợng, giúp ngƣời học đƣợc phát triển năng khiếu của mình, đồng thời hình thành những kĩ năng mà mình chƣa có. Dạy học theo hướng phát triển năng lực Theo các khái niệm đƣợc nêu trên, bản chất của việc dạy học theo hƣớng phát triển năng lực là hƣớng tới việc lấy ngƣời học làm trung tâm và gắn liền với thực tiễn đời sống. Nói cách khác, qua các hoạt động học tập mà ngƣời dạy tổ chức, ngƣời học không chỉ đƣợc tiếp cận tri thức, biết ghi nhớ mà còn biết vận dụng các tri thức mà mình tiếp nhận đƣợc để giải quyết các tình huống cụ thể do cuộc sống đặt ra.
Chƣơng trình giáo dục phát triển năng lực yêu cầu ngƣời dạy trƣớc hết cần xác định các năng lực cần trang bị và phát triển cho học sinh, từ đó mới quyết 11 định nội dung và phƣơng pháp dạy học. Dạy học phát triển năng lực không hƣớng đến việc cung cấp cho ngƣời học thật nhiều kiến thức hàn lâm mà quan tâm đến việc hình thành các kiến thức và kĩ năng cần thiết để ngƣời học có thể vận dụng vào cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả, đáp ứng những yêu cầu và sự biến đổi không ngừng nghỉ của xã hội hiện đại. Để đạt đƣợc điều đó, ngƣời thầy cần tổ chức các hoạt động dạy học đa dạng, tích cực hoá hoạt động của học sinh. Ngƣời giáo viên có vai trò tạo môi trƣờng học tập thân thiện và những tình huống cụ thể để dẫn dắt, nêu vấn đề; giao nhiệm vụ và tổ chức cho học sinh làm việc, trao đổi; khích lệ học sinh tham gia tích cực các hoạt động học tập, tự phát hiện cũng nhƣ phát huy điểm mạnh của bản thân; rèn luyện khả năng và thói quen tự học, tự ứng dụng những kiến thức, kĩ năng đã tích luỹ đƣợc trong quá trình học tập vào cuộc sống để phát triển.
Tuỳ theo mục tiêu, tính chất bài học mà các hoạt động học tập có thể đƣợc tổ chức trong hoặc ngoài khuôn viên nhà trƣờng, thông qua một số hoạt động và hình thức chủ yếu: tiếp cận lí thuyết, thực hành và vận dụng - luyện tập (thực hiện bài tập, thí nghiệm, đóng vai…), mở rộng – sáng tạo (dự án, tham quan, cắm trại, phục vụ cộng đồng…); học sinh đƣợc tổ chức làm việc độc lập, làm việc theo nhóm hoặc tập thể lớp học nhƣng phải đảm bảo mỗi học sinh đƣợc quan sát, tạo điều kiện để tự mình trải nghiệm thực tế và thực hiện nhiệm vụ học tập. Đồng thời, việc dạy học theo hƣớng phát triển năng lực cần đƣợc kết hợp với kiểm tra đánh giá theo năng lực, cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt của chƣơng trình và sự tiến bộ của học sinh để có những điều chỉnh kịp thời trong quá trình giảng dạy nhằm cải thiện chất lƣợng giáo dục. Dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực 1. Yêu cầu của chương trình môn Ngữ văn 2018 về dạy học theo hướng phát triển năng lực a) Yêu cầu chung của chương trình môn Ngữ văn 2018 12 Chƣơng trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 ra đời với mục tiêu khắc phục các hạn chế của việc dạy học Ngữ văn trong nhà trƣờng phổ thông, đáp ứng yêu cầu hình thành và phát triển phẩm chất tiêu biểu và năng lực cần thiết cho học sinh.
Mục tiêu ấy đòi hỏi việc dạy học môn Ngữ văn cần chuyển từ dạy học theo nội dung sang dạy học theo hƣớng phát triển năng lực và phẩm chất cho ngƣời học. Phƣơng pháp dạy học này không hƣớng đến việc cung cấp thật nhiều kiến thức về ngôn ngữ và văn học mà quan tâm đến khả năng thực hiện, vận dụng những kiến thức đã học đƣợc vào việc giải quyết các vấn đề trong thực tiễn đời sống của học sinh. Theo đó, đích đến cuối cùng của việc dạy học Ngữ văn là làm thế nào để hình thành và phát triển các năng lực chung và năng lực chuyên biệt cho học sinh. Trong đó, các năng lực chung là năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.