Tổng quan nghiên cứu

Nghệ thuật thanh nhạc đóng vai trò nền tảng trong đào tạo sư phạm âm nhạc, đòi hỏi người học phải làm chủ cả kỹ thuật phát âm lẫn khả năng biểu cảm tác phẩm. Trải qua hơn 45 năm hình thành và phát triển, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương là cơ sở trọng điểm đào tạo đội ngũ giáo viên âm nhạc cho các cấp học trên toàn quốc. Tuy nhiên, thực tế giảng dạy giai đoạn 2015 - 2017 cho thấy sinh viên hệ đại học sư phạm âm nhạc còn gặp nhiều rào cản khi tiếp cận các tác phẩm thính phòng kinh điển phương Tây. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là tình trạng sinh viên hát sai cao độ, phát âm tiếng nước ngoài bẹt âm, điều tiết hơi thở chưa vững và thiếu kỹ năng biểu diễn sân khấu khi xử lý thể loại aria.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là nghiên cứu, hệ thống hóa và đề xuất các giải pháp sư phạm chuyên sâu thông qua việc giảng dạy 4 trích đoạn aria tiêu biểu trong vở nhạc kịch kinh điển "Đám cưới Figaro" (Le nozze di Figaro) của nhà soạn nhạc thiên tài Wolfgang Amadeus Mozart. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào đối tượng sinh viên năm thứ 3 và năm thứ 4 chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc thuộc Khoa Thanh nhạc, thực hiện trong khuôn khổ khóa đào tạo 5 (2015 - 2017). Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc nâng cao tỷ lệ sinh viên làm chủ kỹ thuật thanh nhạc đỉnh cao, tăng hiệu quả xử lý tác phẩm cổ điển từ mức trung bình lên trên 85% đạt yêu cầu chất lượng biểu diễn, đồng thời cung cấp tài liệu tham khảo giá trị cho chương trình đào tạo sư phạm âm nhạc hiện nay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết thanh nhạc cổ điển phương Tây, nổi bật là nghệ thuật hát Bel Canto của Ý hình thành từ thế kỷ XVII và phát triển rực rỡ vào thế kỷ XIX. Trường phái Bel Canto đề cao âm thanh vang, sáng, tròn, đẹp với vị trí âm thanh thống nhất ở chân răng cửa trên kết hợp hoạt động mở rộng khoang cộng minh. Bên cạnh đó, luận văn ứng dụng lý thuyết thể loại Opera Buffa (nhạc kịch hài hước, châm biếm) thời kỳ cổ điển Viên thế kỷ XVIII của W. Mozart, dựa trên kịch bản văn học của Pierre Beaumarchais.

Hệ thống khái niệm kỹ thuật thanh nhạc cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm:

  1. Kỹ thuật hơi thở: Phân định 4 kiểu thở (thở ngực, thở ngực kết hợp bụng, thở ngực dưới và bụng, thở bụng) và cơ chế giãn nở cơ hoành để tạo cột hơi nén vững chắc khi hát nốt cao như E2, F2, G2, A2.
  2. Kỹ thuật legato: Hát liền giọng mềm mại, liên kết âm thanh liên tục không đứt quãng.
  3. Kỹ thuật staccato và non-legato: Hát nảy tiếng linh hoạt ở vị trí nông, cao và kỹ thuật hát nhấn ngắt từng nốt dứt khoát.
  4. Kỹ thuật passage: Hát lướt nhanh giai điệu với độ chuẩn xác tuyệt đối về cao độ và trường độ.
  5. Nghệ thuật phát âm nhả chữ: Điều tiết khẩu hình chuẩn mực theo 5 nguyên âm cơ bản (a, e, o, i, u) và xử lý linh hoạt phụ âm tiếng Ý.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng gồm: Khảo sát thực trạng giảng dạy tại Khoa Thanh nhạc, phân tích bản phổ 4 aria của Mozart ("Voi, che sapete", "Porgi amor", "Dove sono i bei momenti", "Deh vieni, non tarda") và dữ liệu thu âm đánh giá giọng hát sinh viên trong tiến trình đào tạo 2015 - 2017.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 24 sinh viên hệ đại học sư phạm âm nhạc năm thứ 3 và năm thứ 4. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling), phân nhóm theo đặc tính âm vực và loại giọng (Soprano, Mezzo-soprano) nhằm áp dụng các bài tập kỹ thuật tương thích. Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp phân tích âm nhạc học và thực nghiệm sư phạm là vì thanh nhạc là môn nghệ thuật thực hành đặc thù; chỉ có thông qua thực nghiệm đối chứng theo mô hình 2 sinh viên/tiết học 50 phút mới có thể lượng hóa chính xác sự tiến bộ về âm sắc, cột hơi và kỹ năng xử lý sắc thái của từng người học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về năng lực giảng viên và người học, Khoa Thanh nhạc sở hữu 36 giảng viên có trình độ từ thạc sĩ trở lên (trong đó có 3 nghiên cứu sinh tiến sĩ và nhiều nghệ sĩ đạt giải cao quốc gia). Tuy nhiên, trên 70% sinh viên đầu vào độ tuổi 18 - 21 chưa từng tiếp cận thanh nhạc chuyên nghiệp, hát chủ yếu theo bản năng sinh học, hít hơi ngực nông và mở khẩu hình sai khiến âm thanh bị gằn cổ.

Thứ hai, về hệ thống giáo trình, tài liệu hiện hành của nhà trường mới dừng ở 4 tập cơ bản ("Tài liệu Thanh nhạc 1", "Tài liệu Thanh nhạc 2", "Concone", "Vaccaj"), thiếu vắng các tập tuyển chọn aria hoàn chỉnh cho năm 3 và năm 4. Khảo sát cho thấy hơn 65% sinh viên gặp khó khăn lớn khi nhả chữ tiếng Ý và không kiểm soát được cao độ ở các nốt chuyển giọng từ F1 đến G2.

Thứ ba, việc triển khai bài bản quy trình dạy học 4 aria của Mozart kết hợp bài tập mẫu âm thanh nhạc đã tạo ra sự bứt phá vượt bậc. Tỷ lệ sinh viên làm chủ kỹ thuật hát liền giọng legato và mở khẩu hình dọc tăng từ 40% ở giai đoạn khảo sát ban đầu lên 87.5% sau thực nghiệm; khả năng duy trì cột hơi ổn định trong các câu hát dài đạt mức tăng trưởng 45%.

TIẾN BỘ KỸ THUẬT THANH NHẠC TRƯỚC VÀ SAU THỰC NGHIỆM (N = 24 SINH VIÊN)
========================================================================
Tiêu chí đánh giá         Trước TN (%)     Sau TN (%)     Mức tăng (%)
------------------------------------------------------------------------
1. Cột hơi & Nén hơi          41.7%           87.5%          +45.8%
2. Kỹ thuật Legato            37.5%           91.7%          +54.2%
3. Kỹ thuật Staccato          29.2%           79.2%          +50.0%
4. Nhả chữ tiếng Ý            25.0%           83.3%          +58.3%
5. Thể hiện sắc thái          33.3%           87.5%          +54.2%
========================================================================

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự chuyển biến tích cực là do giảng viên đã chuyển dịch từ lối dạy thị phạm bắt chước thụ động sang phương pháp phân tích cấu trúc tác phẩm, giải thích ngữ nghĩa văn học và bản chất cơ chế phát âm Bel Canto. Sinh viên hiểu rõ hoàn cảnh kịch tính của nhân vật Cherubino hay Nữ Bá tước, từ đó tự giác điều chỉnh cảm xúc và định vị âm thanh bám chắc chân răng cửa trên.

So với các công trình nghiên cứu phương pháp thanh nhạc tổng quát của Nguyễn Trung Kiên (2001, 2004) hay Hồ Mộ La (2008), luận văn này đã cụ thể hóa đường hướng sư phạm vào từng ô nhịp, từng nốt luyến láy của W. Mozart. Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua bảng tổng hợp 5 tiêu chí kỹ thuật nêu trên và biểu đồ cột so sánh điểm thi thực hành biểu diễn (điểm trung bình tăng rõ rệt từ 6.5 lên 8.2 điểm), khẳng định tính khả thi và độ tin cậy cao của mô hình can thiệp sư phạm.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa và ban hành tuyển tập giáo trình Aria chuyên sâu: Ban chủ nhiệm Khoa Thanh nhạc cần phối hợp Hội đồng Khoa học biên soạn bổ sung tập bài tập 10 - 15 trích đoạn aria và romance cổ điển dành riêng cho sinh viên năm 3 và năm 4, hoàn thành trong lộ trình 6 tháng.
  2. Cá nhân hóa mẫu luyện thanh và phân nhóm giảng dạy: Giảng viên bộ môn phải dứt điểm việc cho luyện thanh tập thể đại trà; duy trì nghiêm ngặt mô hình 2 sinh viên/tiết học 50 phút, thiết kế riêng 10 bài tập mẫu âm tương ứng với 3 nhóm loại giọng (cao, trung, trầm) trong suốt 2 học kỳ/năm học.
  3. Tăng cường đào tạo ngữ âm ngoại ngữ và giải phóng hình thể: Khoa Sư phạm Âm nhạc cần phối hợp mở các khóa bồi dưỡng phát âm tiếng Ý và tiếng Pháp chuyên ngành với thời lượng tối thiểu 30 tiết/năm, giúp sinh viên phát âm chuẩn xác từng nguyên âm đôi và phụ âm kép.
  4. Nâng cấp cơ sở vật chất và tăng giờ thực hành sân khấu: Ban Giám hiệu Nhà trường cần đầu tư 100% phòng học cách âm đạt chuẩn trang bị đàn piano cơ chất lượng cao, gương lớn quan sát khẩu hình, đồng thời đảm bảo bố trí đủ 45 tiết tự học có sân khấu biểu diễn cho mỗi học phần năm thứ tư.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Giảng viên thanh nhạc tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm nghệ thuật: Tiếp cận bộ phương pháp thị phạm kết hợp phân tích tác phẩm chi tiết, ứng dụng ngay 10 bài tập luyện thanh mẫu vào giáo án thực hành hàng tuần.
  • Sinh viên chuyên ngành Sư phạm Âm nhạc và Thanh nhạc năm thứ 3, năm thứ 4: Sử dụng làm cẩm nang hướng dẫn kỹ thuật lấy hơi, mở khẩu hình, nhả chữ tiếng Ý và phương pháp làm chủ 4 aria kinh điển của W. Mozart.
  • Các nhà nghiên cứu phương pháp dạy học âm nhạc và lý luận âm nhạc: Khai thác nguồn tư liệu học thuật về tiến trình phát triển Opera thế giới, cấu trúc Opera Buffa và phương pháp luận thiết kế thực nghiệm sư phạm âm nhạc.
  • Ca sĩ thính phòng, nghệ sĩ biểu diễn và người học thanh nhạc cổ điển: Tham khảo quy trình xử lý tinh tế các kỹ thuật Legato, Passage, Staccato và phương thức truyền tải nội tâm nhân vật trên sân khấu nhạc kịch.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao 4 aria trong vở "Đám cưới Figaro" được chọn giảng dạy cho sinh viên năm 3 và năm 4?

Bốn aria này ("Voi, che sapete", "Porgi amor", "Dove sono", "Deh vieni, non tarda") có cấu trúc giai điệu mẫu mực thời kỳ cổ điển, âm vực trải dài từ C1 đến A2 rất phù hợp với cữ giọng sinh viên đã tích lũy 2 năm kỹ thuật nền tảng, giúp hoàn thiện toàn diện kỹ năng hát liền giọng và kiểm soát sắc thái.

2. Sinh viên thường mắc lỗi phát âm nào khi hát tiếng Ý và cách khắc phục ra sao?

Sinh viên thường mắc lỗi bẹt khẩu hình, đóng âm quá sớm và bỏ quên phụ âm đôi. Để khắc phục, sinh viên cần áp dụng nguyên tắc Bel Canto: Mở khẩu hình theo chiều dọc, giữ nguyên vị trí âm thanh trên các nguyên âm mở (a, e, o), ngân hết trường độ nốt rồi mới bật nhanh phụ âm nối tiếp.

3. Kiểu thở nào đem lại hiệu quả tốt nhất khi thể hiện các đoạn cao trào trong aria?

Kiểu thở ngực dưới kết hợp bụng (thở cơ hoành) là tối ưu nhất. Phương pháp này cho phép hít sâu làm giãn nở xương sườn cụt và hai bên sườn, tạo điểm tựa cột hơi vững vàng để đẩy âm thanh lên các xoang cộng minh đầu mà không gây căng cứng thanh quản khi lên nốt cao E2, F2, G2.

4. Điểm khác biệt căn bản giữa kỹ thuật Staccato và Non-legato là gì?

Staccato yêu cầu bật âm thanh nảy thật nhanh, nhẹ nhàng, vị trí nông và cao ở đầu môi với tiết tấu linh hoạt. Ngược lại, Non-legato đòi hỏi khống chế hơi thở sâu, hát nhấn rõ từng nốt nhạc với tiết tấu thong thả hơn rồi mới ngắt âm dứt khoát trước khi chuyển nốt.

5. Tại sao không nên cho sinh viên luyện thanh đồng loạt theo nhóm tập thể?

Mỗi sinh viên có âm vực, loại giọng và tật khẩu hình khác nhau. Luyện thanh tập thể khiến giọng yếu bị lấn át, sinh viên không nghe rõ âm thanh của bản thân để tự điều chỉnh cột hơi, đồng thời dễ gây quá sức hoặc gằn họng cho những em có âm vực thấp khi phải với theo nốt cao của nhóm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về kỹ thuật hát Bel Canto, lịch sử nghệ thuật Opera và phân tích sâu sắc cấu trúc âm nhạc 4 trích đoạn aria trong vở "Đám cưới Figaro" của W. Mozart.
  • Khảo sát thực tiễn đã chỉ rõ các điểm nghẽn về hơi thở, nhả chữ và giáo trình tại Khoa Thanh nhạc Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, từ đó xác lập tính cấp thiết của đề tài.
  • Đề xuất quy trình sư phạm 5 bước chuẩn mực (Luyện thanh - Vỡ bài - Sửa bài - Dựng bài - Hoàn thiện biểu diễn) cùng hệ thống 10 bài tập mẫu âm chuyên biệt xử lý hiệu quả các kỹ thuật Legato, Staccato, Passage.
  • Kết quả thực nghiệm sư phạm trên 24 sinh viên khẳng định mô hình đào tạo mới nâng cao trên 85% năng lực làm chủ kỹ thuật và cải thiện vượt bậc điểm số chuyên môn biểu diễn.
  • Đóng góp nguồn tư liệu sư phạm thực tiễn, định hướng các bước tiếp theo trong việc số hóa bài giảng thanh nhạc và mở rộng biên soạn giáo trình aria cổ điển; các cơ sở đào tạo âm nhạc cần sớm đưa giải pháp này vào ứng dụng đại trà để chuẩn hóa chất lượng đầu ra.