Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động đầu tư theo dự án của doanh nghiệp. Chương 3: Thực trạng đầu tư theo dự án tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thiết bị công nghệ HTC. Chương 4: Định hướng và giải pháp tăng cường đầu tư theo dự án tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thiết bị công nghệ HTC đến năm 2020. 5 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ THEO DỰ ÁN CỦA DOANH NGHIỆP 2.1 Đầu tƣ theo dự án của doanh nghiệp 2.1 Khái niệm Đầu tư là hoạt động sử dụng, kết hợp các nguồn lực (vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ) ở hiện tại nhằm mục đích thu được các kết quả ở tương lai.
Hoạt động đầu tư có thể chia thành: đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, đầu tư phát triển và đầu tư tài chính… Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư, còn đầu tư gián tiếp thì người đầu tư chỉ bỏ vốn mà không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành. Đầu tư phát triển nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới, tài sản mới cho nền kinh tế cũng như cho doanh nghiệp. Đầu tư phát triển có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển của một doanh nghiệp. Để hoạt động đầu tư đảm bảo tính khoa học, đạt được mục tiêu, đem lại hiệu quả tài chính và kinh tế, xã hội cao thì trước khi bỏ vốn đầu tư phải làm tốt công tác chuẩn bị, phải xem xét, tính toán toàn diện các khía cạnh thị trường, kinh tế kỹ thuật, tài chính, kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên, môi trường, các yếu tố chủ quan, khách quan…có liên quan và tác động đến quá trình thực hiện đầu tư, khai thác vận hành các kết quả đầu tư.
Mọi sự xem xét, tính toán, dự đoán, chuẩn bị được thể hiện trong việc soạn thảo và trình bày một cách khoa học các văn bản, tài liệu, hồ sơ…và được thể hiện trong các dự án đầu tư. Vì vậy, khi tiến hành các hoạt động đầu tư thì cần thiết phải tiến hành theo các dự án đầu tư. 6 Dự án đầu tư được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Tại điều 3, Luật đầu tư số 67/2014/QH13 có quy định: “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”.
Theo tác giả Bùi Mạnh Hùng: “Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong khoảng thời gian nhất định. Ngân hàng Thế giới cho rằng “dự án đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt được mục tiêu nào đó trong thời gian nhất định”. Nhìn chung, dự án đầu tư gồm bốn thành phần chính sau: + Mục tiêu của dự án: Mục tiêu nay thường được xem xét dưới hai góc độ. Đối với doanh nghiệp đó là mục đích thu hồi vốn, tạo lợi nhuận và vị thế phát triển mới của doanh nghiệp.
Đối với nền kinh tế và xã hội đó là việc phù hợp với lợi ích kinh tế xã hội, tạo thêm việc làm và sản phẩm, dịch vụ cho xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái. + Các nguồn lực: Vốn, lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu. + Hệ thống các hoạt động đồng bộ, để thực hiện các mục tiêu, tạo ra các kết quả cụ thể. + Các kết quả: Đó là những kết quả cụ thể, có thể định lượng được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án.
Qua đó có thể định nghĩa đầu tư theo dự án là một phương thức cơ bản của đầu tư phát triển, là hoạt động đầu tư, sử dụng vốn, lao động, vật tư, và các nguồn lực trên cơ sở tính toán hiệu quả tài chính, kinh tế xã hội theo kế hoạch đã định nhằm duy trì, tạo thêm các tiềm lực mới cho doanh nghiệp. Vốn đầu tư dự án là tổng hợp các nguồn lực được sử dụng trong quá trình đầu tư phát triển nhằm thực hiện các mục tiêu đầu tư. 7 Đầu tư dự án của doanh nghiệp là một hình thức phổ biến, là công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động của doanh nghiệp để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài. Dự án đầu tư có tầm quan trọng đặc biệt đối với từng doanh nghiệp.
Sự thành bại của một doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc đầu tư dự án có hiệu quả hay không. Với cách hiểu trên, đầu tư theo dự án trong doanh nghiệp có những đặc điểm sau: Một là, đầu tư theo dự án trong doanh nghiệp cũng có tính chu trình và được thực hiện theo một trình tự chặt chẽ. Bất kỳ dự án đầu tư nào đều có một chu trình chung gồm: từ việc hình thành ý tưởng, hình thành dự án đầu tư, chuẩn bị dự án đầu tư, thực hiện dự án đầu tư, kết thúc đầu tư, bàn giao đưa vào sử dụng, vận hành các kết quả đầu tư. Các dự án đầu tư được soạn thảo, thẩm định và phê duyệt theo quy trình chặt chẽ, phức tạp.
Điều này nhằm đảm bảo hơn tính khoa học, sự chắc chắn của quá trình đầu tư dự án. Hai là, các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau nên các dự án đầu tư của doanh nghiệp cũng mang đậm các đặc trưng của ngành nghề đó. Ngoài ra đầu tư dự án của doanh nghiệp luôn có mục đích, mục tiêu rõ ràng. Dự án ngay từ giai đoạn hình thành phải xác định được mục tiêu đầu tư.
Như vậy, bất kỳ một dự án nào được lập, thẩm định và phê duyệt đều phải nhằm đạt được mục đích. Chỉ khi làm rõ mục đích của dự án đầu tư thì việc bỏ vốn để triển khai thực hiện dự án mới ý nghĩa và mang lại hiệu quả. Ba là, nguồn vốn của từng doanh nghiệp để đầu tư theo dự án là khác nhau, doanh nghiệp có thể đóng vai trò là chủ đầu tư trực tiếp, góp vốn đầu tư (đóng vai trò thứ phát) hoặc liên kết đầu tư. Bốn là, nguồn lực đảm bảo cho dự án.
Để đảm bảo triển khai được các dự án đầu tư của doanh nghiệp đạt được mục tiêu đầu tư thì phải doanh nghiệp phải tính toán lên kế hoạch bố trí nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) ngay từ giai đoạn đầu tiên đến giai đoạn cuối cùng của chu trình đầu tư. Sẽ 8 thiếu thực tế nếu dự án đầu tư được lập ra nhưng không được bảo đảm chắc chắn về mặt nguồn lực. Vì vậy, quá trình lập, thẩm định, phê duyệt dự án, vấn đề xác định nguồn lực và tính khả thi của nó rất quan trọng, quyết định đến chất lượng và tiến độ thực hiện dự án. Năm là, mỗi doanh nghiệp có cách thức quản lý dự án đầu tư là khác nhau, nên hoạt động đầu tư theo dự án ở mỗi doanh nghiệp luôn chịu sự quản lý khác nhau của từng doanh nghiệp, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư theo dự án của doanh nghiệp.
Sáu là, dự án đầu tư bao giờ cũng được tiến hành trong một thời gian xác định. Thời gian dài hay ngắn phụ thuộc vào quy mô, mức độ, tính chất của dự án. Chính vì vậy khi đầu tư theo dự án doanh nghiệp cần phải có kế hoạch phân bổ và huy động vốn hiệu quả và hợp lý đối với tất cả các dự án đầu tư của mình.2 Phân loại dự án đầu tư trong doanh nghiệp Để thuận tiện cho việc theo dõi, quản lý và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư. Có thể phân loại dự án đầu tư trong doanh nghiệp theo các tiêu thức sau: a.
Đầu tƣ theo chiều rộng Đầu tư theo chiều rộng, mở rộng quy mô hoạt động được xem là một trong các loại hình đầu tư phổ biến nhất ở các doanh nghiệp hiện nay. Đầu tư theo chiều rộng là hình thức đầu tư trên cơ sở cải tạo và mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, xây mới nhưng với kỹ thuật và công nghệ dưới mức trung bình tiên tiến của ngành. Đầu tư theo chiều rộng gắn với việc xây thêm các cơ sở sản xuất kinh doanh nhằm mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp, từ đó khai thác hiệu quả kinh tế nhờ quy mô. Đầu tư theo chiều rộng cũng góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động ở các địa phương.
Đầu tư theo chiều rộng càng có hiệu quả thì doanh nghiệp càng có điều kiện thuận lợi về vốn, về lao động để phát triển sản xuất. 9 Đầu tư theo chiều rộng là đầu tư cho cả 4 nhân tố đầu vào là: lao động, vốn, công nghệ và tài nguyên theo một tỷ lệ như cũ để sản xuất theo công nghệ hiện đại. Đầu tư theo chiều rộng cũng là hoạt động mua sắm máy móc thiết bị để đổi mới thay thế những thiết bị cũ theo dây chuyền công nghệ đã có từ trước. Đó cũng là đầu tư xây dựng mới nhà cửa, cấu trúc hạ tầng theo thiết kế được phê duyệt lần đầu làm tăng thêm lượng tài sản vật chất tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Đầu tư theo chiều rộng giúp tăng thêm số lao động, nhưng không làm tăng thêm trình độ tay nghề, kỹ năng, kinh nghiệm lao động. Ưu điểm của hình thức đầu tư này là giảm chi phí về thời gian, tiền bạc nghiên cứu vì dựa trên cơ sở công nghệ hiện có, tốc độ tăng trưởng của lao động lớn hơn tốc độ tăng trưởng vốn giúp huy động thêm lao động. Nhược điểm của đầu tư theo chiều rộng là thời gian đầu tư kéo dài do phải thi công nhiều hạng mục công trình, không làm tăng năng suất lao động, không tiết kiệm được nhiên liệu, vốn lớn nằm khê đọng trong quá trình đầu tư, hạn chế trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đầu tƣ theo chiều sâu Đầu tư theo chiều sâu là đầu tư nhằm nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng nguồn lực.