Chương 1: Tổng quan công trình nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và thực tế của đầu tư phát triển ngành thủy sản Chương 3: Thực trạng đầu tư phát triển ngành thủy sản trên địa bàn Tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 – 2011 Chương 4: Một số giải pháp tăng cường đầu tư phát triển ngành thủy sản trên địa bàn Tỉnh Nghệ An đến năm 2020 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CƠ SỞ THỰC TẾ CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH THỦY SẢN 2. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ, ĐẶC ĐIỂM VÀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH THUỶ SẢN 2. Khái niệm đầu tư phát triển ngành thuỷ sản Đầu tư phát triển ngành thuỷ sản là việc sử dụng các nguồn lực trong hiện tại để thực hiện các hoạt động nào đó trong lĩnh vực thuỷ sản nhằm tạo ra năng lực sản suất mới và (hoặc) cải tạo, mở rộng, nâng cấp năng lực sản xuất hiện có, từ đó thu được nguồn lợi ích lớn hơn, lâu dài hơn cho nhà đầu tư và nền kinh tế - xã hội trong tương lai. Nguồn lực được sử dụng trong đầu tư phát triển ngành thuỷ sản có thể là: Tiền (vốn đầu tư, …), tài sản (máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, …), nhân lực (sức lao động, trí tuệ, …), tài nguyên thiên nhiên (mặt nước, sông, ao hồ,…), ….
Cụ thể nguồn lực liên quan đến đầu tư phát triển ngành thuỷ sản bao gồm một số nguồn lực chính như sau: Nguồn lực thủy vực (mặt nước) trong đầu tư phát triển ngành thuỷ sản Thủy vực hay mặt nước là nơi sinh sống của các giống loài thủy sản. Thuỷ vực sử dụng để đầu tư phát triển ngành thủy sản có hai loại là thuỷ vực tự nhiên và thuỷ vực nhân tạo do con người tạo ra bằng cách đào ao, chuyển đất canh tác từ ruộng trồng lúa năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản, xây dựng hồ đập. Thủy vực là tư liệu sản xuất chủ yếu của hoạt động nuôi trồng thủy sản, nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động của con người. Có các loại thủy vực chính: - Thủy vực nước ngọt: thuộc hệ thống các sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, hệ thống hồ chứa nước tự nhiên và hồ chứa nước nhân tạo, hệ thống ao hồ nhỏ, đàm ruộng trũng.
- Thủy vực nước lợ: Những nơi có sự pha trộn giữa nước ngọt từ sông ngòi đổ ra biến tạo nên các thủy vực nước lợ. Đó là các vùng nước cửa sông, ven biển và rừng ngập mặn, đàm phá nằm rải rác dọc chiều dài bờ biển. Thủy vực nước lợ là môi trường thuận lợi cho nhiều loại thủy sản có giá trị sinh sống và phát triển như tôm, cá nước lợ cua biển và rong câu. Đặc biệt rừng ngập mặn là bộ phận quan trọng của vùng sinh thái nước lợ, ở đó hình thành nguồn thức ăn chủ yếu của thảm thực vật cho các loài động thực vật thủy sinh, là nơi nuôi dưỡng chính cho các loại 11 ấu trùng giống hải sản lớn lên và trưởng thành.
Vì vậy, vùng nước lợ vừa có ý nghĩa sản xuất lớn vừa có ý nghĩa như một vùng không thể thay thế được trong việc bảo vệ và tái tạo nguồn lợi biển. -Vùng nước mặn gần bờ: Xét từ góc độ kinh tế của nguồn lực sản xuất, vùng nước mặn gần bờ là vùng khai thác chủ yếu của nghề cá. - Vùng nước mặn xa bờ: Đây là vùng biển có độ sâu 50 mét nước trở ra. Đối với nuôi trồng thủy sản thì đây là nguồn lực sản xuất phục vụ cho hoạt động nuôi hải sản lồng bè trên biển.
- Vùng đất cát ven biển: Là những vùng đất cát rộng lớn có thể đào đắp thành hố để nuôi thủy sản và nhuyễn thế. Nguồn lực lao động trong đầu tư phát triển ngành thủy sản - Nguồn lực lao động là yếu tố hàng đầu trong mọi hoạt động đầu tư, sản xuất thuỷ sản. Lao động thủy sản gắn liền với lao động nông thôn và nông nghiệp. Do đặc điểm tính chất kinh tế - xã hội của các tổ chức sản xuất thủy sản, chủ yếu là kinh tế hộ, tư nhân và tập thể nên lực lượng lao động bao gồm cả người ngoài độ tuổi lao động mà có khả năng tham gia sản xuất.
Lao động thủy sản chuyên nghiệp là những người có thu nhập chủ yếu từ các hoạt động khai thác, nuôi trồng, chế biến hoặc dịch vụ hậu cần thuỷ sản. Họ có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp. Ngoài ra còn một số lượng đông đảo lao động thủy sản bán chuyên nghiệp, họ tham gia sản xuất thủy sản vào thời kỳ nông nhàn hoặc kết hợp trong quá trình sản xuất nông – lâm nghiệp để tăng thu nhập. - Lao động thủy sản mang tính thời vụ, rõ nét hơn cả là trong nuôi trồng và khai thác.
Điều này làm phức tạp thêm cho việc sử dụng nguồn lao động trong ngành thuỷ sản. Nếu hiểu chất lượng nguồn lực bao gồm cả trí lực và thể lực thì người lao động trong lĩnh vực này có biểu hiện không đồng đều trong các lĩnh vực sản xuất, phụ thuộc đặc điểm yêu cầu công việc. Trong khai thác thuỷ sản đòi hỏi lao động trẻ và khoẻ, chỉ có đàn ông tham gia đi biển. Lao động nuôi trồng thuỷ sản bao gồm thêm cả phụ nữ, người già và thiếu niên nam nữ.
Lao động trong lĩnh vực chế biến thuỷ sản đòi hỏi phải có kỹ năng nghề nghiệp và được đào tạo nhiều hơn. - Lao động trong nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản, đặc biệt là đánh bắt hải sản phụ thuộc vào ngư trường, các ngư dân quần tụ lại thành những làng chài trên sông, trên biển. - Nguồn lực lao động thủy sản chỉ tách riêng ra khỏi nông nghiệp nông thôn khi thủy sản trở thành một nghề chính. Công nghiệp khai thác, chế biến và nuôi 12 trồng thủy sản phát triển đã thu hút một số lượng lao động khá lớn chuyến sang từ nông nghiệp.
Nguồn lực vốn trong đầu tư phát triển ngành thủy sản - Vốn đầu tư sản xuất là biểu hiện bằng tiền của tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng vào sản xuất. Vốn là một nguồn lực hạn chế, nó vận động không ngừng, đi từ phạm vi sản xuất sang lưu thông và quay trở lại sản xuất. Vốn sản xuất bao gồm vốn cố định và vốn lưu động. - Những bộ phận cấu thành vốn cố định bao gồm cả các tư liệu lao động có nguồn gốc kỹ thuật (như : máy móc, thiết bị, công nghệ, cơ sở hạ tầng vùng nuôi.) và các tư liệu lao động có nguồn gốc sinh học (những đàn cá tôm bố mẹ dược nuôi dưỡng đặc biệt để nhân giống).
Vốn lưu động là khoản tiền ứng trước để mua một số yếu tố đầu vào dự trữ cho quá trình sản xuất: thức ăn, chế phẩm sinh học, giống thủy sản, .Chúng chuyển toàn bộ giá trị một lần vào sản phẩm mới. - Chu kỳ sản xuất trong nuôi trồng và mỗi chuyến đi biến khai thác thủy sản thường tương đối dài và có tính mùa vụ nên làm cho vốn sản xuất luân chuyển chậm chạp, vốn cố định thu hồi chậm, còn vốn lưu động thường bị ứ đọng và cần dự trữ tương đối trong thời gian dài. Đối với khai thác hải sản xa bờ, nhu cầu đầu tư để mua sắm tàu thuyền, phương tiện khá lớn, thời gian thu hồi vốn đầu tư dài và dễ bị tổn thất vốn đầu tư. - Vốn sản xuất tác động vào quá trình nuôi trồng và khai thác thủy sản không bằng cách trực tiếp mà phải thông qua môi trường nước và vật nuôi.
Vì vậy cơ cấu vốn sản xuất phải phù hợp với từng loại hình mặt nước sản xuất thuỷ sản và giống loài thuỷ sản đó. - Đầu tư phát triển ngành thủy sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, khí hậu, thời tiết cho nên khi sử dụng vốn có nhiều rủi ro, có khi bị thiệt hại cả về người và tài sản. Nguồn lực khoa học công nghệ trong đầu tư phát triển ngành thủy sản - Khoa học công nghệ là yếu tố nguồn lực quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển. Trong hoạt động đầu tư phát triển ngành thủy sản, tiến bộ khoa học công nghệ là một trong những nhân tố quyết định sự phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong ngành thủy sản.
- Đầu tư phát triển nuôi trồng thủy hải sản dựa vào tiến bộ khoa học của công nghệ sinh sản nhân tạo, lai tạo, thuần chủng các giống loài thủy hải sản, công 13 nghiệp sản xuất thức ăn cho tôm cá. Nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh ở các thủy vực nội địa và trên biển. - Khoa học – kỹ thuật là một sự đảm bảo chắc chắn cho sự phát triển nghề đánh bắt cá năng suất cao như: Công nghiệp đóng tàu khai thác hải sản, các tiến bộ trong công nghệ thông tin liên lạc vô tuyến điện tử, công nghệ sản xuất ngư cụ khai thác và các thiết bị thăm dò đàn cá, …. - Tiến bộ khoa học công nghệ với tư cách là một yếu tố sản xuất trực tiếp đã đẩy mạnh hoạt động đầu tư phát triển ngành thủy sản cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, mở rộng cả quy mô và không gian, cường độ hoạt động.
Vì vậy tăng cường đầu tư cho khoa học công nghệ sẽ thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hoạt động này. Các hoạt động đầu tư phát triển ngành thuỷ sản: Đào ao thả cá trên đất canh tác hiệu quả thấp được chuyển đổi mục đích sử dụng, đầu tư cải tạo đầm nuôi thuỷ sản ở ven biển và cửa sông, đầu tư đóng mới tàu thuyền, đầu tư xây dựng và lắp đặt máy móc thiết bị cho các nhà máy hay cơ sở chế biến thuỷ sản, đầu tư xây dựng cảng cá, xây dựng khu neo đậu tránh trú bão vùng, đầu tư xây dựng trại thực nghiệm, xây dựng cơ sở hạ tầng giống thuỷ sản, xây dựng cơ sở hạ tầng nuôi biển, …. Nguồn lợi ích hay kết quả và hiệu quả mà hoạt động đầu tư phát triển ngành thuỷ sản đem lại cho chủ đầu tư và nền kinh tế xã hội có thể là: năng lực sản xuất tăng lên, số tài sản mới được huy động, lợi nhuận gia tăng, đóng góp ngân sách nhà nước, số công việc được tạo ra cho người lao động, nâng cao chất lượng cải thiện cuộc sống của người lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý, góp phần thực hiện mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, phân phối lại thu nhập giữa các vùng miền … .