Chương 1: THỐNG NHẤT QUAN ĐIỂM VỀ ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG CÁC TỘI PHẠM XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP 1. Nhận thức chung về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp 1. Vài nét lịch sử phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, trong những năm tháng đầu tiên sau khi giành được độc lập, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn.
Nền kinh tế đất nước vốn rất nghèo nàn, lạc hậu, vừa trải qua nạn đói năm 1945, nền tài chính kiệt quệ, hầu như không có gì, 95% dân số toàn quốc hoàn toàn mù chữ. Trong khi đó, nguy cơ ngoại xâm từ bên ngoài lấy danh nghĩa đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật. Khoảng 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch mượn danh nghĩa Đồng Minh vào giải giáp quân đội Nhật. Ở miền Nam, quân đội Pháp được quân Anh yểm trợ xâm lược chiếm Sài Gòn.
Bên trong đất nước, bọn phản động người Việt được sự trợ giúp của đế quốc ngoại bang và tàn quân của chế độ cũ nổi dậy chống phá nhằm lật đổ chính quyền nhân dân non trẻ để thành lập một chính phủ phản động làm tay sai cho chúng. Đứng trước tình hình đó, nhân dân ta phải thực hiện ba nhiệm vụ lớn là diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm. Chính vì vậy, pháp luật hình sự được xây dựng thời kỳ này chủ yếu tập trung phục vụ ba nhiệm vụ nói trên. Nhưng do tình hình hết sức khẩn trương lúc bấy giờ, nên không thể ban hành kịp các văn bản quy phạm pháp luật cũng như các văn bản quy phạm pháp luật hình sự cần thiết.
Do đó, ngày 10/10/1945, nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 47-SL cho tạm thời giữ các luật lệ cũ ở ba miền Bắc, Trung, Nam trong đó có Bộ "Luật hình An Nam", Bộ "Hoàng Việt hình luật", và Bộ "Hình luật pháp tu chính". Điều 1 Sắc lệnh quy định:"cho đến khi ban hành bộ luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nam, các luật lệ hiện hành vẫn tạm giữ nguyên như cũ" với điều kiện "Những điều khoản trong luật lệ cũ được tạm giữ lại do sắc luật này chỉ thi hành khi nào không trái với nền độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa" (Điều 12 Sắc lệnh). Do tình hình đất nước lúc bấy giờ nên vấn đề xây dựng pháp luật chưa được quan tâm, các văn bản pháp luật được ban hành thường mang tính thời kỳ, phục vụ những nhiệm vụ trước mắt. Sắc lệnh số 40 ngày 29/3/1946 có quy định: "Những người phụ trách các đề lao, các trại giam, giữ người sau hạn giam mà không có lệnh gia hạn sẽ bị phạt tù từ hai năm đến năm năm và phạt tiền từ 1000 đến 10000 đồng" (Điều 18).
Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng đã ghi nhận một số nguyên tắc trong hoạt động của cơ quan tư pháp như Điều 68 quy định: "Cấm không được tra tấn, đánh đập, ngược đãi những bị cáo và tội nhân". Để đảm bảo tính đúng đắn của họat động tư pháp, nguyên tắc này cũng đã được ghi nhận trong Sắc lệnh số 150-SL ngày 12/4/1953 về việc thành lập Tòa án nhân dân đặc biệt. Điều 6 Sắc lệnh quy định: "Khi hỏi tuyệt đối không được đánh đập, tra tấn". Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đất nước ta bị chia làm hai miền: miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, còn miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm thống trị.
Trước tình hình đó, pháp luật hình sự thời kỳ này phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và tiến hành cách mạng dân tộc giải phóng miền Nam. Miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng miền Bắc thành căn cứ vững mạnh của cách mạng cả nước. Đảng và Nhà nước tiến hành cuộc cải cách ruộng đất rộng khắp trên toàn miền Bắc. Để đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của công dân, Chính phủ đã ban hành Luật số 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 103/SL-005 ngày 20/5/1953.
Sắc lệnh này quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi tra tấn, dùng nhục hình cũng như một số hành vi khác xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan tư pháp, cụ thể Điều 14 quy định: "Đối với những người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam tuyệt đối nghiêm cấm tra tấn hoặc dùng bất cứ nhục hình nào", "Nếu phạm tội tra tấn, dùng nhục hình sẽ bị xử theo hình luật chung". Điều 16 Sắc lệnh cũng quy định chế tài đối với hành vi bắt, giam người, khám đồ vật, nhà ở thư tín trái đạo luật này thì tùy trường hợp có thể bị thi hành kỷ luật hành chính hoặc bị xử phạt từ 15 ngày đến ba năm tù. Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967, Điều 17 quy định: "Kẻ nào biết rõ phần tử phản cách mạng mà chưa chấp che giấu, tiếp tế, giúp đỡ cho chúng lẩn trốn hoặc cất giấu tang vật thủ tiêu chứng cứ phạm tội của chúng thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm". Kể từ khi miền Bắc tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, số lượng tài sản Nhà nước chiếm tỷ lệ lớn trong nền kinh tế quốc.
Mặt khác, thời kỳ này, nền kinh tế Việt Nam mang đậm tính chất kinh tế bao cấp, tội phạm về kinh tế và tội phạm xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa. gia tăng nhiều. Đáp ứng yêu cầu của thực tế và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm, ngày 21/10/1970, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành hai pháp lệnh: Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản công dân. Hai pháp lệnh này có quy định về tội bao che cho kẻ xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và tội bao che kẻ xâm phạm tài sản công dân.
Với chiến thắng năm 1975, miền Nam được giải phóng, đất nước ta hoàn toàn thống nhất. Cả nước bắt tay vào khắc phục những hậu quả của chiến tranh và tiến hành xây dựng đất nước, khôi phục kinh tế, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Sau thất bại ở Việt Nam, đế quốc Mỹ đã thực hiện nhiều kế hoạch nhằm chống 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phá chính quyền cách mạng Việt Nam như bao vây cấm vận kinh tế, kích động, dụ dỗ người dân Việt Nam chạy ra nước ngoài hoặc sử dụng người dân Việt sống lưu vong ở nước ngoài chống phá Việt Nam khiến cho tình hình xã hội ở miền Nam chưa được ổn định. Song song với việc chính thức thành lập Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành Sắc luật số 03/SL-76, ngày 15/3/1976, quy định các tội phạm và hình phạt.
Sắc luật này trừng trị các tội phản cách mạng, các tội xâm phạm tài sản công cộng, các tội xâm phạm thân thể, nhân phẩm, sức khỏe, tài sản riêng của công dân, các tội kinh tế (đầu cơ, tích trữ, phá rối trị trường, làm hàng giả.), các tội chức vụ, hối lộ, các tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng [6]. Điều 3 Sắc luật quy định: "biết rõ phần tử phản cách mạng mà che giấu thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm". Hướng dẫn thi hành Sắc luật số 03/SL-76, Bộ Tư pháp đã ban hành thông tư số 03/BTP ngày 12/4/1976. Điều 5 Thông tư quy định: "Biết rõ phần tử phản cách mạng mà che giấu, chứa chấp thì bị xử phạt từ 1 năm đến 7 năm tù".
Trong nội dung của Thông tư này cũng có một số quy định về những hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp khác như: các hành vi bắt, giam người trái phép, khám người, khám nhà ở, khám đồ vật trái phép do người có chức vụ quyền hạn thực hiện thì bị xử theo quy định của Điều 7 Sắc luật số 03/SL-76 ngày 15/3/1976, cụ thể như sau: "Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn và tội nhận hối lộ có hai mức hình phạt từ 6 tháng đến 5 năm hoặc đến 15 năm"; hoặc hành vi trốn trại giam hoặc tổ chức cho kẻ khác trốn trại giam không vì mục đích phản cách mạng thì bị xử theo Điều 9 Sắc luật số 03 về tội xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng với hình phạt tù từ ba tháng đến năm năm, phạt tiền đến 1000 đồng và có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, từ năm 1945 đến trước khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự lần thứ nhất (năm 1985), các tội xâm phạm hoạt động tư pháp cũng đã được pháp luật hình sự quy định. Tuy nhiên, những quy định này mới chỉ nằm rải rác ở một số văn bản pháp luật hình sự đơn hành chứ chưa có một văn bản quy phạm pháp luật hình sự nào quy định về nhóm tội phạm này một cách có hệ thống và cụ thể những hành vi nào là hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp. Do vậy, quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp chưa có tính hệ thống, thiếu cụ thể, còn thiếu nhiều, tản mạn và chưa đề cập được hết các khía cạnh và sự phức tạp của các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp dẫn đến việc gặp nhiều khó khăn trong quá trình xử lý các tội phạm này.
Đứng trước yêu cầu của tình hình mới, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, cả nước thực hiện nhiệm vụ bảo vệ những thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ chủ nghĩa xã hội, xây dựng nền kinh tế nước nhà, cùng với việc hoàn thiện hệ thống các cơ quan tư pháp thì vấn đề đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và phòng chống các hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan tư pháp nói riêng trở nên bức xúc. Để khắc phục những hạn chế trên cần phải có quy định cụ thể và có hệ thống các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong văn bản quy phạm pháp luật hình sự. Tại kỳ họp thứ 9, ngày 27/6/1985, Quốc hội khóa VII đã thông qua Bộ luật hình sự, có hiệu lực từ ngày 1/1/1986.