Chương 1. Tổng quan về dân tộc Tày –Nùng và Folklore Tày – Nùng. Dấu ấn văn hóa dân gian Tày – Nùng trong thơ Dương Thuấn. Dấu ấn ngữ văn dân tộc Tày – Nùng trong thơ Dương Thuấn.
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG. TỔNG QUAN VỀ DÂN TỘC TÀY – NÙNG VÀ FOLKLORE TÀY – NÙNG. Tổng quan về tộc ngƣời Tày – Nùng ở Việt Nam. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên – xã hội, cảnh quan thiên nhiên và lịch sử tộc người.1 Về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên – xã hội và cảnh quan thiên nhiên.
Người Tày – Nùng ở Việt Nam hiện có khoảng 2.926 người (theo số liệu Tổng điều tra dân số năm 1999, trong đó người Tày chiếm 1.514 người, người Nùng chiếm 867.412 người), là dân tộc thiểu số có số dân đông đảo nhất, cư trú rải rác trên khắp lãnh thổ Việt Nam, nhưng tập trung nhiều ở khu vực miền núi phía Bắc, đặc biệt là Đông Bắc, mật độ dày đặc nhất ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn… Đây là nơi có địa hình dạng cánh cung với những dãy núi đá vôi trung bình và thấp, đan xen vào đó là các thung lũng hẹp, khí hậu mát mẻ, có mùa đông lạnh, sinh giới phong phú, đa dạng về chủng loại. Cảnh quan gắn liền với đồi núi, cỏ cây, thiên nhiên còn nhiều nét hoang sơ dẫu nhiều nơi đã bị tàn phá, khai thác phục vụ cho những mục đích khác nhau của con người. Người Tày – Nùng tụ cư chủ yếu ở các thung lũng quanh chân núi - nơi đất đai thổ nhưỡng tương đối màu mỡ, có nguồn nước dồi dào, khí hậu nóng ẩm thích hợp cho trồng trọt và chăn nuôi, còn phía trên sườn núi hay đỉnh núi cao là nơi sinh sống của đồng bào Dao, H’mông. Đặc trưng sinh thái tộc người này đã được hình thành và ổn định từ rất lâu, trải qua nhiều thế hệ, tạo nên truyền thống ứng xử với môi trường và những tri thức bản địa hết sức phong phú, đa dạng.
Người Tày, Nùng là các tộc người thung lũng, phân biệt với các tộc người sinh sống ở rẻo giữa và rẻo cao.Sau 1975, một bộ phận đồng bào Tày, Nùng tới hơn mấy chục ngàn người di cư vào phía Nam, trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên như Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, Gia Lai, Kon Tum… đây là sự kiện mang tính bước ngoặt trong việc mở rộng địa bàn cư trú của người Tày, Nùng từ vùng thung lũng miền núi phía Bắc đến miền sơn nguyên đất đỏ phía Nam. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thiên nhiên núi rừng có nhiều ưu đãi, đem đến những tiềm năng kinh tế to lớn về cả nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp nặng và tiểu thủ công nghiệp, trong đó nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo và quan trọng nhất. Người Tày - Nùng đã biết cách thích ứng, và phát triển trong điều kiện tự nhiên như vậy, tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế về phương pháp và trình độ nên chưa khai thác một cách triệt để và có hiệu quả nhất những lợi thế ở địa bàn cư trú và đôi khi có những tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên. Bên cạnh những ưu đãi, thuận lợi thì thiên nhiên cũng là một thử thách với đời sống của họ.
Các thiên tai tự nhiên do hệ quả xấu của những hành động tàn phá môi trường của con người như xói mòn đất đai, lũ lụt, hạn hán, sương giá, cùng với địa hình không bằng phẳng nhiều dốc đứng làm hạn chế về giao thông… đã tạo ra rất nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế của đồng bào Tày - Nùng. Về nguồn gốc, lịch sử dân tộc Tày – Nùng. Tày, Nùng là hai tộc người có nhiều nét tương đồng do có sự giao thoa, ảnh hưởng văn hóa rất mạnh mẽ, sâu sắc lẫn nhau, đồng thời, lại có tác động lan tỏa mạnh mẽ đến văn hóa của cộng đồng các dân tộc cùng cộng cư. Trong suốt chiều dài lịch sử, hai tộc người Tày – Nùng chia sẻ với nhau địa bàn sinh sống, họ sống đan cài xen lẫn nhau, có tác động qua lại lẫn nhau trong nhiều mặt của đời sống lao động và đời sống văn hóa.
Người Tày – Nùng tuy về ngôn ngữ có đôi chút khác biệt, nhưng họ đều có thể dễ dàng nghe hiểu được nhau, thậm chí, họ còn cùng nhau sáng tạo ra nhiều giá trị chung mang đậm bản sắc của cả hai dân tộc. Người Tày – Thái cổ có mặt ở vùng Đông Bắc Việt Nam từ rất sớm, có thể từ cuối thiên niên kỉ I trước Công nguyên. Các truyền thuyết Pú Lương Quân, Cẩu Chủa Cheng Vùa nói về sự có mặt của họ từ những thời kỳ xa xưa ở Việt Nam và những công tích của họ trong xây dựng đất nước. Trải qua lịch sử hàng nghìn năm, do chịu ảnh hưởng của các dân tộc khác, họ đã dần dần bị phân hóa, trở thành những bộ phận cư dân khác nhau.
Trong cộng đồng người Tày hiện nay, còn bao gồm cả một bộ phận người Việt từ vùng đồng bằng lên miền núi (quan lại triều đình lên trấn ải biên cương, theo chế độ lưu quan…) qua nhiều thế hệ đã bị Tày hóa. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Người Tày cổ đã cùng với người Việt cổ dựng nên nhà nước Âu Lạc và theo truyền thuyết của người Tày ở vùng Cao Bằng thì An Dương Vương Thục Phán chính là người Tày cổ. Trong cuốn Văn hóa dân gian Tày Nùng ở Việt Nam, nhóm các nhà nghiên cứu do Hà Đình Thành chủ biên [41] có giải thích về nguồn gốc tên gọi dân tộc Tày Nùng như sau: Tày là tên gọi có từ lâu đời, có nguồn gốc chung với tên gọi của nhiều dân tộc thuộc nhóm Thái – Choang ở Nam Trung Quốc và Đông Nam Á như Tai, Tay, Táy, Thai… đều có nghĩa chung là “người”. Người Tày ở Việt Nam còn có tên gọi khác là Thổ, có nghĩa là người vốn ở đất này từ lâu, nên những người tới sau gọi họ là Thổ (thổ trước), tuy nhiên, tộc danh này không chỉ có ở người Tày mà còn là tên gọi của một số cư dân bản địa khác.
Tộc danh Nùng có thể có nguồn gốc từ tên dòng họ Nùng, một dòng họ có thể lực ở Tả Giang và Hữu Giang tỉnh Quảng Tây thời nhà Đường. Nếu ở người Tày hầu như không có sự phân biệt rõ rệt giữa các nhóm địa phương thì ở người Nùng điều này là nét nổi bật. Hiện tại nếu căn cứ vào tên gọi của các nhóm người Nùng có thể phân chia thành 2 loại: a/ Loại tên gọi căn cứ vào đặc trưng trang phục thường do những người láng giềng của họ gọi, như Nùng Khen Lài (người Nùng mặc áo có các khoanh vải màu), Nùng Hu Lài (người Nùng đội khăn chàm có đốm trắng), Nùng Slử Tỉn (người Nùng mặc áo ngắn chấm mông)… b/ Loại tên gọi theo địa danh, nơi họ sinh sống trước khi di cư tới Việt Nam, như: Nùng An (từ châu An Kết), Nùng Inh (từ châu Long Anh), Nùng Phàn Slình (từ châu Vạn Thành), Nùng Cháo (từ Long Châu), Nùng Quý Rịn (từ Quy Thuận), Nùng Lòi (từ châu Hạ Lôi)… Ngoài ra còn có các tên gọi khác mà giới khoa học chưa xác định được nguồn gốc, như: Nùng Dín, Nùng Xuồng, Nùng Tùng Xin, Nùng Viền, Nùng Chủ… Rõ ràng, các tên gọi kể trên hình thành trong quá trình phân hóa cộng đồng người Nùng (nằm trong khối Nam Choang), khi họ di cư theo những con đường khác nhau, vào các thời điểm khác nhau tới Việt Nam. Khi tới Việt Nam, họ lại sống tách biệt, xen cài với các tộc bản địa, nên được các cư dân bản địa gọi với các tên gọi khác nhau.(…) 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mặc dù có cùng nguồn gốc từ xa xưa, nhưng trong quá trình phát triển đã tách thành hai tộc người riêng.
Tuy nhiên, ít nhất từ hai trăm năm này, hai tộc người này đã cùng sống chung xen cài ở vùng Việt Bắc, nên đã và đang diễn ra quá trình tiếp xúc, giao lưu ảnh hưởng qua lại. Không kể những bộ phận người Nùng hóa Tày hay ngược lại thì giữa Tày và Nùng cũng đang hình thành những yếu tố văn hóa chung Tày – Nùng, thể hiện trong ngôn ngữ, phong tục, tín ngưỡng, văn học nghệ thuật… khiến nhiều nhà nghiên cứu ngày nay lúng túng khi phân biệt văn hóa Tày hay Nùng. Người Nùng di cư sang Việt Nam trong khoảng vài trăm năm trở lại đây, trong quá trình sinh sống đan xen với người Tày, đã bị người Tày đồng hóa bởi người Tày có một nền văn hóa bản địa rất mạnh, họ thậm chí còn đồng hóa những quan lại người Kinh lên vùng Cao Bằng theo triều nhà Mạc, nên mới có câu “Kinh già hóa thổ” là như vậy. Như vậy, từ gốc chung là Thái – Choang, cộng đồng Tày – Nùng đã diễn ra quá trình phân ly cách đây 2, 3 ngàn năm, nay lại hội nhập trở lại.
Hôn nhân hỗn tạp giữa người Tày và người Nùng đã trở nên phổ biến, là một nhân tố thúc đẩy quá trình hội nhập của cộng đồng người Tày, Nùng với nhau. Trong quá trình dựng nước và giữ nước, đấu tranh giành độc lập, đồng bào Tày - Nùng đã có những đóng góp hết sức to lớn trong việc bảo toàn sự toàn vẹn lãnh thổ vùng biên cương phía Bắc của Tổ quốc, chống lại sự bành trướng của các thế lực phong kiến ngoại bang. Từ khi Đảng Cộng Sản Đông Dương ra đời (1930), các cơ sở Cách mạng lần lượt được xây dựng tại các tỉnh Việt Bắc. Nhiều người con ưu tú của dân tộc Tày, Nùng đã sớm giác ngộ cách mạng, trở thành những Đảng viên Cộng sản lớp đầu tiên, tiêu biểu như Hoàng Văn Thụ, Hoàng Đình Dong… Đến khi Bác Hồ về nước (1941), vùng Việt Bắc trở thành quê hương Cách Mạng, là căn cứ địa vững chắc cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 lịch sử, dựng nên nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Việt Bắc lại được vinh dự chọn làm thủ đô gió ngàn, là nơi đóng trụ sở của các cơ quan trung ương và 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cũng là nơi làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều vị lãnh đạo cao cấp khác của Đảng và Nhà nước. Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nhiều con em người Tày Nùng đã gia nhập các lực lượng vũ trang, trực tiếp cầm súng chiến đấu hoặc tham gia thanh niên xung phong, làm nhiệm vụ mở đường, vận tải vũ khí, khí tài, lương thực, thực phẩm phục vụ cho các chiến dịch.