phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn Chƣơng 2: Thực trạng đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trên địa bàn TP Hà Nội Chƣơng 3 Giải pháp phát triển đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trên địa bàn TP Hà Nội 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ NÔNG NGHIỆP CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm liên quan 1. Lao động nông thôn Nông thôn là khu vực sinh sống của cộng đồng dân cƣ chủ yếu là nông dân, là vùng sản xuất nông nghiệp, ngoài ra còn có các hoạt động sản xuất và dịch vụ phục vụ cho nông nghiệp, và cho cộng đồng nông thôn.So với đô thị, nông thôn có cơ sở hạ tầng, trình độ sản xuất hàng hóa thấp hơn. Nguồn lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật (nam từ 16 tuổi đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động.
Lực lƣợng lao động nông thôn là bộ phận của ngƣời lao động ở nông thôn bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những ngƣời thất nghiệp nhƣng có nhu cầu tìm việc làm. Theo Nguyễn Tiệp: “Lao động nông thôn là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc gia, bao gồm toàn bộ những ngƣời có khả năng lao động (lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những ngƣời có khả năng tham gia lao động nhƣng chƣa tham gia lao động) thuộc khu vực nông thôn (khu vực địa lý bao trùm toàn bộ dân số nông thôn”[28,102]. Lao động nông thôn dựa trên một số đặc điểm cơ bản sau: Số lƣợng lớn: theo Báo cáo các điều tra lao động việc làm quý 4 năm 2021 của Tổng cục thống kê, lao dộng nông thôn có khoảng 31.1 triệu ngƣời [29,102]. Lao động nông thôn chủ yếu làm nông nghiệp, trình độ học vấn thấp, không đƣợc đào tạo cơ bản.
Ngoài ra, họ tham gia sản xuất, phục vụ nông nghiệp: bán giống, cây con, thuốc bảo vệ thực vật,… 10 Lao động nông thôn mang tính thời vụ: lao đông nông nghiệp, nông thôn làm việc có tính mùa vụ do dặc thù của nghề nông. Đối tƣợng của nghề nông là cây trồng, vật nuôi, chúng là những cơ thể sống trong đó quá trình tái sản xuất tự nhiên và tái sản xuất kinh tế đan xen nhau. Cùng một loại cây trồng, vật nuôi ở những địa phƣơng có điều kiện tự nhiên khác nhau sẽ có quá trình sinh trƣởng và phát triển khác nhau. Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh viễn, chúng ta chỉ có thể tìm cách giảm tính thời vụ chứ không thể xóa bỏ đƣợc.
Mức thu nhập GDP/đầu ngƣời thấp. Nông thôn là khu vực trong đó nông nghiệp là hoạt động chủ yếu của ngƣời dân. Nông nghiệp là ngành lao động nặng nhọc và thu nhập thấp, rủi ro cao. Vì vậy điều kiện sản xuất và sinh hoạt của ngƣời dân rất khó khăn, hầu hết thu nhập của họ chỉ đủ tái sản xuất giản đơn và chỉ dùng cho các nhu cầu đời sống tối thiểu.
Trong luận văn này, tác giả tiếp cận khái niệm lao động nông thôn là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động thuộc khu vực nông thôn. Nghề nông nghiệp Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ đƣợc đào tạo, con ngƣời có đƣợc những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng đƣợc những nhu cầu của xã hội. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Nghề là công việc chuyên làm theo phân công lao động trong xã hội”. Với cách tiếp cận này, mỗi ngƣời trong hệ thống phân công lao động xã hội sẽ đảm nhận một hoặc một số công việc, những công việc này lặp đi lặp lại thƣờng xuyên, từ ngày này sang ngày khác, nội dung của những công việc đó không hề thay đổi, và nó đƣợc hiểu là nghề.
Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực- Đại học kinh tế quốc dân tác giả Trần Xuân Cầu, “Nghề cũng đươc hiểu là một hình thức phân công lao 11 động, nó dòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định”[7,99]. Nhƣ vậy để có đƣợc nghề, ngƣời lao động cần phải có kiến thức về lý thuyết của một hoặc một vài môn khoa học nào đó, những kỹ năng thực hành đến mức thành thạo. Nghề có thể hiểu là tổng hợp những kiến thức và kỹ năng lao động mà con ngƣời tiếp thu đƣợc do kết quả của đào tạo chuyên môn và tích lũy kinh nghiệm trong công việc. Mặc dù các khái niệm trên đƣợc hiểu theo các góc độ khác nhau, song chúng ta có thể thấy nghề có các đặc điểm sau: Nghề là hoạt động, là công việc về lao động của con ngƣời đƣợc lặp đi lặp lại.
Nghề đƣợc hình thành do sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu của xã hội và là phƣơng tiện để sinh sống. Nghề là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi, đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định. Vì vậy đào tạo nghề là yêu cầu tất yếu bắt nguồn từ chính bản chất, đặc trƣng của nó. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tƣ liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lƣơng thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp.
Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản. Nghề nông nghiệp trƣớc kia quan niệm chỉ là nghề trồng lúa, trồng cây, nhƣng đến nay nghề nông nghiệp còn gắn liền với công việc sản xuất và chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trƣờng và tài nguyên thiên nhiên… Theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg nghề nông nghiệp gồm các nhóm ngành sau: nhóm nghề trồng trọt - Bảo vệ thực vật; nhóm nghề chăn nuôi; nhóm nghề lâm nghiệp; nhóm nghề thủy sản; nhóm nghề chế biến; nhóm nghề dịch vụ nông 12 nghiệp. Nhƣ vậy, có thể nói nghề nông nghiệp là loại hình lao động chuyên nghiệp gắn liền với công việc sản xuất, chăn nuôi và chế biến nông sản, thực phẩm. Đào tạo nghề Theo tác giả Trần Xuân Cầu, “Đào tạo nghề là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, khả năng thuộc về một nghề, một chuyên môn nhất định để ngƣời lao động thực hiện có hiệu quả chức năng và nhiệm vụ của mình”[7,99].
Đào tạo nghề gồm hai quá trình không thể tách rời nhau: dạy nghề và học nghề. Trong một số văn bản hiện nay, đào tạo nghề và dạy nghề đƣợc đồng nhất với nhau. Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014 số 74/2014/QH13 đƣợc Quốc hội thông qua ngày 27/11/2014 tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII: "Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học. " Dạy nghề là tổng thể các hoạt động truyền nghề đến ngƣời học nghề.
Đó là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để học viên có đƣợc một trình độ, kỹ năng, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp. Học nghề là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của học viên để có đƣợc một nghề nghiệp nhất dịnh. Đối tƣợng của đào tạo nghề là lao động nói chung, đối tƣợng của đào tạo nghề cho lao động nông thôn là những ngƣời lao động nông thôn 1. Đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn Đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn là quá trình truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để những ngƣời lao động nông 13 thôn có đƣợc một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp.
Đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn có những đặc điểm sau: Thứ nhất, do số lƣợng nguồn lao động nông thôn lớn nên đối tƣợng đào tạo nghề cho lao động nông thôn có số lƣợng lớn. Số lƣợng đối tƣợng đào tạo nghề cho lao động nông thôn lớn còn thể hiện ở chất lƣợng nguồn lao động nông thôn thấp. Thực tế hiện nay, lực lƣợng lao động nông thôn đƣợc đào tạo và bồi dƣỡng kiến thức về nghề nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp, hầu hết các kiến thức, kinh nghiệm ngƣời lao động sử dụng đều thông qua sự đúc rút kinh nghiệm trong quá trình làm việc và sự truyền dạy lại của các thế hệ trƣớc. Thứ hai, do tính đa dạng của đối tƣợng đào tạo, nên việc tổ chức các khóa đào tạo phải rất linh hoạt về chƣơng trình đào tạo, hình thức đào tạo, phƣơng thức đào tạo, phƣơng pháp truyền đạt.
Chƣơng trình đào tạo phải gắn với học liệu sinh động, đa dạng và thiết thực, phù hợp với trình độ, hoàn cảnh của ngƣời học để tất cả ngƣời lao động nông thôn có cơ hội đƣợc đào tạo chuyên môn kỹ thuật từ đó tìm việc làm và tạo việc làm có năng suất lao động cao hơn, nâng cao dần mức sống của ngƣời dân. Cần đa dạng hóa và phù hợp với từng nhóm đối tƣợng, từng vùng miền nhƣ đào tạo tập trung tại các cơ sở, trung tâm dạy nghề đối với ngƣời lao động nông thôn chuyển đổi nghề nghiệp; đào tạo nghề lƣu động cho lao động nông thôn làm nông nghiệp tại các làng, xã, thôn, bản; dạy nghề tại nơi sản xuất, tại hiện trƣờng nơi ngƣời lao động làm việc. Thứ ba, đối tƣợng đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn có nguồn nội lực cho đào tạo nghề rất hạn chế. Số lƣợng đối tƣợng đào tạo nghề rất lớn, tuy nhiên do đó là những ngƣời dân ở nông thôn.
Đó là nơi GDP đầu ngƣời thấp, sản xuất hàng hóa ít phát triển, thị trƣờng lao động ít phát triển, ít có khả năng tiếp cận với hệ thống giáo dục đào tạo, cơ sở hạ tầng kém 14 phát triển, hệ thống chăm sóc sức khỏe cho ngƣời dân chƣa đảm bảo, môi trƣờng sống của dân cƣ nông thôn chậm cải thiện (giao thông, điện, nƣớc sạch.), do đó điều kiện của họ cho việc học nghề rất hạn hẹp, đặc biệt là học ở bậc cao và theo các hình thức trƣờng lớp.