phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục nội dung chính của đề tài gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo nghề đáp ứng thị trường lao động. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý đào tạo nghề đáp ứng thị trường lao động tại trường Trung cấp nghề số 18/Bộ quốc phòng. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý đào tạo nghề đáp ứng thị trường lao động tại trường Trung cấp nghề số 18/Bộ quốc phòng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ ĐÁP ỨNG THỊ TRƢỜNG LAO ĐỘNG 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Nghề nghiệp được hình thành và phát triển gắn liền với việc hình thành và phát triển của xã hội loài người. Quá trình phát triển ĐTN ở Việt Nam gắn với lịch sử dựng nước và giữ nước, tuy vậy có thể nhận thấy sự ra đời của các trường dạy nghề đào tạo công nhân kỹ thuật được bắt đầu vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỳ XX. Đầu tiên thực dân Pháp cho xây dựng một số trường dạy nghề ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam như: trường Kỹ nghệ thực hành Hà Nội (1898), trường Kỹ nghệ thực hành Huế (1899), trường Cơ khí Á Châu Sài Gòn (1898) (nay là trường kỹ thuật Cao Thắng) và trường kỹ nghệ thực hành Hải Phòng (1913). Trong giai đoạn đó nhiều cơ sở dạy nghề được thành lập với nhiều loại hình khác nhau … Giai đoạn lịch sử của cách mạng Tháng 8-1945, công tác ĐTN chưa có điều kiện phát triển mạnh, nhưng đã có những chuyển biến kịp thời nhằm đào tạo đội ngũ công nhân, cán bộ cho quốc phòng, y tế, nông nghiệp, sư phạm… theo phương châm trường lớp nhỏ, ngắn hạn, phân tán trong chiến khu, vùng tự do, vừa làm vừa học, gắn với thực tiễn, phù hợp với chủ trương “Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến”.
Từ năm 1954 đến năm 1975, đất nước tạm chia làm hai miền Nam, Bắc. Miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng CNXH, đấu tranh thống nhất đất nước, miền Nam bị thống trị bởi chế độ Mỹ - Ngụy. Trong bối cảnh lịch sử đó, tại miền Bắc ĐTN đã phát triển nhanh, đặc biệt là khi được hỗ trợ có hiệu quả của các nước XHCN, nhất là Liên Xô cũ. Ngày 09-10- 1969 Chính Phủ đã ban hành Nghị quyết số: 200/CP về việc thành lập Tổng cục đào tạo công nhân kỹ thuật, có thể coi đây là mốc lịch sử đánh dấu sự phát triển ĐTN theo hướng chính quy, tập trung.
Ở miền Nam từ năm 1954 đến năm 1975, ĐTN cũng trải qua nhiều biến động và xuất hiện sự du nhập tư bản vào các xí nghiệp ở các thành phố, các khu công nghiệp như Biên Hòa, Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định… đòi hỏi một lực lượng lớn LĐ kỹ thuật phục vụ cho bộ máy chiến tranh và đô thị hóa. Giải phóng miền Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 Nam 30-4-1975 đã thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, đưa đất nước tiến lên nền sản xuất lớn XHCN. Giai đoạn này, ĐTN phát triển mạnh, góp phần xây dựng CNXH, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của nền kinh tế với cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp. Tháng 02-1987 Tổng cục dạy nghề sáp nhập vào Bộ Đại học – Trung học chuyên nghiệp thành Bộ Đại học – Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, theo đó chỉ còn Vụ Dạy nghề và Vụ GV.
Năm 1990 tiếp tục sáp nhập Bộ Đại học – Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề với Bộ Giáo dục thành Bộ GD-ĐT, theo đó Vụ ĐTN sáp nhập với Vụ Trung học chuyên nghiệp thành Vụ trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Đến cuối năm học 1997-1998 toàn quốc chỉ còn 151 trường dạy nghề, 150 trung tâm dạy nghề đào tạo hệ dài hạn. Ngày 23-5-1998, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số: 33/1998/NĐ-CP về việc tái thành lập Tổng cục dạy nghề (trực thuộc Bộ LĐ-TBXH). Từ đó đến nay hệ thống ĐTN không ngừng phát triển về quy mô, số lượng trường lớp, HS.
Ngày 29-11-2006 tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã thông qua Luật dạy nghề có hiệu lực từ ngày 01-7-2007, theo đó hệ thống dạy nghề đào tạo theo ba cấp trình độ: sơ cấp nghề, TCN và Cao đẳng nghề. Sự biến động về quản lý Nhà nước trong lĩnh vực ĐTN được khái quát theo sơ đồ 1.1 sau: TỔNG CỤC 1978 DẠY NGHỀ (Trực thuộc CP) 1998 - nay 1969 Tổng cục TỔNG CỤC Đào tạo CN DẠY NGHỀ Bộ LĐ Bộ LĐ-TBXH 1987 Vụ ĐTN- Bộ DH- 1951 1963 THCN và DN Vụ đào tạo Vụ GDCN CNKT 1992 Bộ GD Bộ LĐ Vụ THCN- DN Bộ GD-ĐT 1952 Vụ Biên tập Chính trị-CN Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Biến động quản lý Nhà nước về đào tạo nghề Nghiên cứu về quản lý, về đào tạo, đặc biệt là quản lý đào tạo nghề đã và đang được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, nhiều công trình nghiên cứu, sách tham khảo, phổ biến kinh nghiệm đã được công bố, đó là các tác giả: Ngô Tiến Dũng, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Đình Am, Nguyễn Bá Dương, Phạm Thành Nghị, Vũ Thế Phú… Về lĩnh vực khoa học quản lý giáo dục là những tác phẩm, những bài báo của các tác giả như: Đặng Quốc Bảo, Phạm Thị Diệu Vân, Nguyễn Kỳ, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Ngọc Quang, Vũ Ngọc Hải, Bùi Minh Hiền, Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Đức Trí, Mạc Văn Trang, Trần Kiểm, Đặng Thành Hưng… họ đã góp phần cải tiến, hoàn thiện hơn công tác quản lý giáo dục của đất nước. Vấn đề quản lý đào tạo nghề cũng đã được nghiên cứu qua một số luận văn thạc sĩ của một số tác giả theo những góc độ khác nhau, như: “Một số biện pháp quản lý đào tạo tại trường Trung cấp kỹ thuật nghiệp vụ Phú Lâm, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Hà Thế Vinh, “Hoàn thiện và đổi mới một số biện pháp quản lý ĐTN của trường Trung cấp công nghiệp Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Ngô Ngọc Bối, “Một số biện pháp quản lý công tác đào tạo tại trường dạy nghề tỉnh Quảng Nam” của tác giả Nguyễn Minh Tú, “Một số biện pháp tăng cường quản lý ĐTN ở trường Đại học công nghiệp Hà Nội” của Nguyễn Văn Tuấn… Các luận văn đã góp phần làm sáng tỏ thêm về cơ sở lý luận cho việc quản lý hoạt động ĐTN, đồng thời khẳng định những biện pháp cơ bản, phổ biến và khả thi nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường dạy nghề trong giai đoạn hiện nay.
Tuy vậy cho đến nay, vấn đề quản lý đào tạo tại trường dạy nghề đáp ứng yêu cầu thị trường lao động, đặc biệt các trường đào tạo nghề trong Quân đội vẫn chưa được nghiên cứu sâu, thiếu những biện pháp quản lý cụ thể, cần thiết, phù hợp với môi trường đào tạo ở các trường nghề Bộ Quốc phòng. Một số khái niệm cơ bản 1. Mác coi quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội. Ông viết: “Bất cứ LĐ xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần một chừng mực nhất định đến quản lý, quản lý xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá thể và hoàn thành chức năng chung xuất hiện trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 sự vận động của các bộ phận riêng rẽ của nó.
Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. Trong quản lý bao giờ cũng có chủ thể quản lý, khách thể quản lý quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý. Từ những ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra. Quản lý đào tạo Đào tạo theo thuật ngữ đào tạo của Bộ LĐ nước Anh: “Đào tạo là phát triển có hệ thống về thái độ/ kiến thức/ kỹ năng/ mẫu hành vi theo yêu cầu cá nhân nhằm thực hiện thích đáng một công việc hay một nghề”.
Quan điểm ở Mỹ: “Mọi quy trình tổ chức nhằm bồi dưỡng việc học tập trong ở những thành viên của tổ chức theo hướng góp phần nâng cao tính hiệu quả của tổ chức”. Kết hợp hai quan điểm trên, Peter Bramley (trong tác phẩm “Evaluating training effectiveness”) rút ra 3 đặc trưng: - Đào tạo phải là một quá trình có hệ thống được kế hoạch và kiểm soát hơn là học tập ngẫu nhiên từ kinh nghiệm. - Đào tạo phải làm thay đổi kiến thức, kỹ năng, thái độ của người học (cá nhân và tập thể). - Đào tạo nhằm hoàn thiện việc thực hiện nghề và thông qua đó nâng cao tính hiệu quả một phần của tổ chức mang trong đó cá nhân và tập thể hoạt động.
Từ đó, có thể nói: Đào tạo là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các kiến thức, kỹ năng, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo năng lực cho họ vào đời hành nghề có năng suất và hiệu quả cao. Hoạt động đào tạo trong trường TCN có đặc trưng nổi bật nhất là quá trình đào tạo. Quá trình đào tạo bao gồm các nhân tố chủ yếu sau: - Mục tiêu đào tạo. - Nội dung đào tạo.
- Phương pháp đào tạo. - Điều kiện đào tạo. - Lực lượng đào tạo (Thầy – người dạy). - Tổ chức đào tạo.
- Đối tượng đòa tạo (Trò – người học). - Môi trường đào tạo. - Quy chế đào tạo. - Bộ máy tổ chức đào tạo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 Các yếu tố này hoạt động trong mối quan hệ tương tác với nhau, đảm bảo cho quá trình đào tạo diễn ra hài hòa, cân đối và toàn vẹn. Từ mười yếu tố trên, có thể rút ra sáu nhân tố cốt lõi sau: - Mục tiêu đào tạo (M) - Nội dung đào tạo (ND) - Phương pháp đào tạo. (PP) - Lực lượng đào tạo (GV) - Đối tượng đào tạo (HS) - Thiết bị dạy học (TBDH) Ba nhân tố mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo liên kết chặt chẽ với nhau, quy định nhau và hỗ trợ nhau. Chúng có mối quan hệ với mục tiêu phát triển KT-XH, trạng thái tiến bộ về văn hóa khoa học của đất nước.