Tổng quan nghiên cứu

Tại huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, khu vực nông thôn hiện chiếm trên 80% tổng lực lượng lao động của toàn địa bàn, nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật trước năm 2020 chỉ đạt khoảng 22,5%. Sự thiếu hụt về tay nghề, kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức tổ chức sản xuất hàng hóa đã tạo nên rào cản lớn đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Trước thực trạng đó, công trình nghiên cứu được triển khai nhằm giải quyết căn bản mâu thuẫn giữa chất lượng nguồn nhân lực nông thôn và yêu cầu tuyển dụng ngày càng khắt khe của thị trường việc làm tại địa phương.

Mục tiêu cụ thể của luận văn hướng đến việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về công tác quản lý đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp, nông thôn; phân tích toàn diện thực trạng đào tạo nghề trên địa bàn huyện Bình Gia giai đoạn 2020 - 2022; từ đó xác lập hệ thống giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phấn đấu đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo của huyện đạt trên 45% vào năm 2025.

Phạm vi nghiên cứu được xác định tại huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn với các số liệu thực chứng được thu thập, phân tích trong giai đoạn 2020 - 2022 vào thời điểm tháng 12 năm 2022. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện rõ nét qua việc cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học giúp chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách dạy nghề, tạo tiền đề nâng thu nhập bình quân của lao động sau đào tạo từ mức 2,9 triệu đồng lên hơn 4,1 triệu đồng mỗi tháng, đồng thời thúc đẩy giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều của huyện từ 2,5% đến 3,0% mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết vốn nhân lực của Gary Becker và Theodore Schultz làm kim chỉ nam cốt lõi, khẳng định rằng hoạt động giáo dục và dạy nghề cho người lao động chính là quá trình tích lũy nguồn vốn nhân lực trực tiếp, giúp gia tăng năng suất lao động biên và tạo ra mức tăng trưởng kinh tế vùng bền vững. Bên cạnh đó, tác giả tích hợp lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao động xã hội để luận giải tiến trình chuyển dịch việc làm từ nông nghiệp thuần túy sang tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại tại địa bàn miền núi.

Nghiên cứu làm rõ bốn khái niệm và mô hình quản lý nòng cốt: Thứ nhất, lao động nông thôn được xác định là những người từ đủ 15 tuổi trở lên cư trú tại địa bàn nông thôn, có khả năng lao động và có nhu cầu tham gia vào các hoạt động kinh tế. Thứ hai, đào tạo nghề cho lao động nông thôn là hoạt động có tổ chức nhằm trang bị hệ thống tri thức, kỹ năng thao tác và tác phong lao động chuẩn mực để người học có thể tự tạo việc làm hoặc tham gia vào thị trường lao động. Thứ ba, quy trình quản lý nhà nước về đào tạo nghề theo định hướng của Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, bao hàm quy trình khép kín từ khâu khảo sát nhu cầu, lập kế hoạch, đầu tư cơ sở vật chất, bồi dưỡng giảng viên cho đến tổ chức lớp học, hỗ trợ tài chính và giám sát đầu ra. Thứ tư, chất lượng đào tạo nghề được lượng hóa thông qua mức độ đáp ứng tiêu chuẩn kỹ năng nghề, tỷ lệ học viên có việc làm ổn định và giá trị kinh tế gia tăng sau quá trình học tập.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa việc khai thác dữ liệu thứ cấp và thu thập dữ liệu sơ cấp thực địa. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2020 - 2022 của Ủy ban nhân dân huyện Bình Gia, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Bình Gia và Niên giám thống kê tỉnh Lạng Sơn.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi đóng kết hợp mở với cỡ mẫu chính thức là 180 phiếu khảo sát, bao gồm 150 lao động nông thôn đã tham gia các khóa học nghề và 30 cán bộ quản lý, giáo viên trực tiếp giảng dạy tại các cơ sở đào tạo. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng tại 6 xã đại diện cho các vùng kinh tế - địa lý khác nhau của huyện Bình Gia, đảm bảo cơ cấu giữa nhóm nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phương pháp so sánh tương quan và phương pháp tổng hợp phân tích là nhằm định lượng chính xác sự biến động của các chỉ tiêu đào tạo theo thời gian, đo lường tỷ lệ hoàn thành kế hoạch và tìm ra nguyên nhân sâu xa của khoảng cách giữa năng lực đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động thực tế. Toàn bộ tiến trình thu thập dữ liệu và xử lý thông tin được thực hiện từ tháng 6 năm 2022 đến tháng 12 năm 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Bình Gia giai đoạn 2020 - 2022 đạt 1.865 người, đạt tỷ lệ 88,8% so với kế hoạch mục tiêu đề ra là 2.100 người. Số lượng người học có xu hướng tăng dần theo các năm: năm 2020 đạt 580 học viên, năm 2021 đạt 615 học viên và năm 2022 đạt 670 học viên.

Thứ hai, cơ cấu ngành nghề đào tạo phản ánh sự phân hóa rất lớn. Nhóm nghề nông - lâm nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo với 1.285 học viên, tương đương 68,9% tổng số người học, tập trung chủ yếu vào kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng hồi, quế, trồng cây ăn quả ôn đới và phòng trừ dịch bệnh trong chăn nuôi. Nhóm nghề phi nông nghiệp chỉ chiếm 31,1% với 580 người, phân bổ rải rác ở các nghề cơ khí sửa chữa máy nông nghiệp, kỹ thuật hàn, may mặc dân dụng và xây dựng.

Thứ ba, hiệu quả giải quyết việc làm sau đào tạo đạt mức khá khi có 76,4% học viên (tương đương 1.425 lao động) tìm được việc làm mới hoặc áp dụng trực tiếp kỹ năng vào mô hình kinh tế gia đình để nâng cao năng suất. Trong đó, tỷ lệ lao động làm đúng hoặc phù hợp với nghề đào tạo đạt 68,2%. Mức thu nhập bình quân của người lao động tăng từ 2,9 triệu đồng/người/tháng trước khi học nghề lên 4,1 triệu đồng/người/tháng sau khi tốt nghiệp, tương ứng với mức tăng 41,3%.

Thứ tư, khả năng tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ tài chính sau đào tạo còn rất thấp. Toàn huyện chỉ có 23,8% học viên tốt nghiệp tiếp cận được các gói tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội để mở rộng quy mô sản xuất, với mức vốn vay bình quân từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng cho mỗi mô hình kinh tế hộ.

Thảo luận kết quả

Thành công trong việc duy trì quy mô đào tạo và nâng cao tỷ lệ việc làm lên 76,4% bắt nguồn từ sự quan tâm lãnh đạo sát sao của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Bình Gia và sự vào cuộc tích cực của các đoàn thể địa phương. Tuy nhiên, việc tỷ trọng đào tạo phi nông nghiệp chỉ đạt 31,1% và tỷ lệ tiếp cận vốn vay chỉ đạt 23,8% đã bộc lộ những hạn chế trong khâu dự báo nhu cầu thị trường.

Để làm rõ các phát hiện này, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột kép so sánh chỉ tiêu kế hoạch với kết quả thực hiện qua các năm, kết hợp bảng thống kê cơ cấu nghề nghiệp theo từng tiểu vùng địa phương. Bảng số liệu này sẽ minh chứng rõ nét rằng công tác phân bổ chỉ tiêu đào tạo tại nhiều xã vẫn còn mang tính bình quân, chưa bám sát quy hoạch phát triển kinh tế lâm nghiệp và dịch vụ của huyện.

So sánh với các nghiên cứu tương tự tại các huyện miền núi thuộc tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn, kết quả tại Bình Gia có tỷ lệ học viên làm đúng nghề (68,2%) nằm ở mức tương đương bình quân khu vực Đông Bắc Bộ (dao động từ 65% đến 70%). Mặc dù vậy, mối liên kết giữa cơ sở dạy nghề với cộng đồng doanh nghiệp tại Bình Gia còn rất lỏng lẻo. Chỉ khoảng 12% các lớp đào tạo nghề có sự tham gia ký kết thỏa thuận tiếp nhận lao động của doanh nghiệp hoặc hợp tác xã. Thực tế này phản ánh cơ sở đào tạo vẫn chủ yếu cung cấp những khóa học sẵn có về năng lực sư phạm thay vì đào tạo theo đơn đặt hàng thực tế của thị trường, dẫn đến tình trạng một bộ phận học viên sau khi học xong các nghề phi nông nghiệp không tìm được việc làm tại chỗ mà phải đi làm ăn xa.

Đề xuất và khuyến nghị

Để hoàn thiện toàn diện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Bình Gia giai đoạn 2023 - 2025, bốn giải pháp trọng tâm cần được thực thi đồng bộ:

Thứ nhất, đổi mới quy trình khảo sát và lập kế hoạch đào tạo nghề. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Bình Gia chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân 19 xã, thị trấn tổ chức điều tra nhu cầu học nghề thực tế của người dân trước ngày 30 tháng 10 hàng năm. Mục tiêu đặt ra là 100% các lớp dạy nghề mở mới phải dựa trên đơn đăng ký thực tế và quy hoạch chuỗi giá trị cây hồi, cây quế của huyện, phấn đấu nâng tỷ lệ hoàn thành kế hoạch tuyển sinh hàng năm đạt trên 95% trong giai đoạn 2024 - 2025.

Thứ hai, xây dựng mô hình liên kết ba bên chặt chẽ giữa nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp. Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Bình Gia cần chủ động ký kết hợp đồng đào tạo và cung ứng nhân lực với tối thiểu 15 doanh nghiệp, hợp tác xã chế biến nông - lâm sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đến hết quý II năm 2024. Mục tiêu là nâng tỷ lệ học viên được doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm hoặc tiếp nhận làm việc trực tiếp lên mức 35% vào năm 2025.

Thứ ba, nâng cấp trang thiết bị dạy nghề và chuẩn hóa năng lực đội ngũ nhà giáo. Ủy ban nhân dân huyện Bình Gia cần ưu tiên trích từ 15% đến 20% nguồn kinh phí sự nghiệp từ các Chương trình mục tiêu quốc gia để mua sắm máy móc, thiết bị thực hành cho nghề cơ khí, chế biến lâm sản trước quý IV năm 2024. Đồng thời, tổ chức bồi dưỡng 100% giáo viên cơ hữu và nghệ nhân giảng dạy đạt chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và phương pháp sư phạm hiện đại trước tháng 12 năm 2024.

Thứ tư, khơi thông nguồn vốn tín dụng ưu đãi và hỗ trợ giải quyết việc làm sau đào tạo. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Bình Gia phối hợp cùng Hội Nông dân và Đoàn Thanh niên đơn giản hóa thủ tục hồ sơ vay vốn, cam kết nâng tỷ lệ học viên sau học nghề được tiếp cận vốn vay từ 23,8% lên tối thiểu 45% vào cuối năm 2025, với định mức vay bình quân từ 70 triệu đến 100 triệu đồng mỗi hộ để nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp hàng hóa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý nhà nước tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Lạng Sơn, Ủy ban nhân dân huyện Bình Gia cùng các huyện miền núi có điều kiện tương đồng. Nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế phân bổ nguồn ngân sách đào tạo nghề, giúp các địa phương tăng hiệu quả sử dụng vốn ngân sách lên khoảng 20% và giảm tỷ lệ mở lớp dàn trải.

Thứ hai, Ban giám đốc và đội ngũ giáo viên tại các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên cấp huyện. Luận văn cung cấp mô hình thiết kế chương trình học theo hướng cầm tay chỉ việc, tăng tỷ lượng thời gian thực hành lên 70% tổng thời lượng khóa học, giúp nâng tỷ lệ học viên có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp lên trên 80%.

Thứ ba, các chủ doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất và chế biến nông - lâm sản trên địa bàn khu vực miền núi phía Bắc. Tài liệu là cẩm nang hữu ích để doanh nghiệp xây dựng phương thức liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng, giúp giảm thiểu khoảng 25% chi phí tuyển dụng và đào tạo lại nhân công phổ thông.

Thứ tư, học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển. Công trình đóng vai trò là một tài liệu tham khảo điển hình về kỹ thuật kết hợp dữ liệu định lượng và định tính tại địa bàn cấp huyện miền núi, phục vụ cho việc thực hiện các công trình nghiên cứu về kinh tế nguồn nhân lực và phát triển nông thôn bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Vì sao tỷ trọng đào tạo nghề nông nghiệp tại huyện Bình Gia lại chiếm tới 68,9% tổng quy mô đào tạo? Trả lời: Huyện Bình Gia có hơn 80% dân số sinh sống ở nông thôn với thế mạnh kinh tế vượt trội về trồng hồi, quế và chăn nuôi. Đào tạo nghề nông nghiệp giúp người dân trực tiếp nâng cao năng suất canh tác trên chính mảnh đất của mình. Trong khi đó, các khu công nghiệp tại địa phương chưa phát triển mạnh nên nhu cầu học nghề nông nghiệp để cải thiện sinh kế trước mắt vẫn là ưu tiên hàng đầu của đa số người lao động.

Câu hỏi 2: Luận văn đã sử dụng phương pháp chọn mẫu khảo sát nào để đảm bảo tính khách quan cho kết quả nghiên cứu? Trả lời: Tác giả đã áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng với cỡ mẫu 180 người, chia thành 150 học viên và 30 cán bộ quản lý, giáo viên tại 6 xã đại diện cho các vùng địa hình khác nhau của huyện. Việc khảo sát trực tiếp trong thời gian 6 tháng đảm bảo dữ liệu thu thập mang tính bao quát, phản ánh đúng cơ cấu ngành nghề và đạt độ tin cậy thống kê cao.

Câu hỏi 3: Việc đào tạo nghề ngắn hạn dưới 3 tháng có thực sự nâng cao thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Bình Gia? Trả lời: Số liệu điều tra thực chứng xác nhận thu nhập bình quân của học viên tăng từ 2,9 triệu đồng lên 4,1 triệu đồng mỗi tháng sau đào tạo, đạt mức tăng 41,3%. Nhờ nắm vững kỹ thuật thâm canh và phòng chống dịch bệnh, các hộ gia đình đã giảm đáng kể tỷ lệ hao hụt cây trồng, vật nuôi, gia tăng năng suất sản phẩm xuất bán ra thị trường.

Câu hỏi 4: Rào cản lớn nhất đối với công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Bình Gia giai đoạn 2020 - 2022 là gì? Trả lời: Rào cản lớn nhất nằm ở sự thiếu thốn về trang thiết bị thực hành tại trung tâm dạy nghề công lập và tỷ lệ tiếp cận vốn vay ưu đãi sau học nghề chỉ đạt 23,8%. Nhiều lao động sau khi hoàn thành khóa đào tạo đã nắm vững tay nghề nhưng lại thiếu nguồn vốn đầu tư chuồng trại hoặc máy móc, làm giảm hiệu quả tự tạo việc làm tại chỗ.

Câu hỏi 5: Luận văn đề xuất giải pháp gì nhằm giải quyết dứt điểm vấn đề đầu ra việc làm cho học viên học nghề? Trả lời: Nghiên cứu đề xuất giải pháp liên kết ba bên bắt buộc giữa chính quyền, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và tối thiểu 15 doanh nghiệp, hợp tác xã địa phương trước quý II năm 2024. Doanh nghiệp tham gia góp ý chương trình, hỗ trợ cơ sở thực tập và cam kết bao tiêu sản phẩm hoặc tuyển dụng lao động, phấn đấu nâng tỷ lệ học viên có việc làm ổn định lên trên 85% vào năm 2025.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng miền núi, đặt trên nền tảng lý thuyết vốn nhân lực và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
  • Khái quát thực trạng đào tạo 1.865 lao động tại huyện Bình Gia giai đoạn 2020 - 2022, ghi nhận tỷ lệ hoàn thành kế hoạch 88,8% và tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo đạt 76,4%.
  • Phân tích sâu sắc các hạn chế cốt lõi như cơ cấu đào tạo còn nặng về nông nghiệp (68,9%), cơ sở vật chất giảng dạy còn thô sơ và tỷ lệ tiếp cận vốn vay ưu đãi mới đạt 23,8%.
  • Xác lập đồng bộ 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá về đổi mới khảo sát nhu cầu, liên kết doanh nghiệp bao tiêu đầu ra, chuẩn hóa đội ngũ giảng viên và mở rộng vốn vay ưu đãi lên 45% đến năm 2025.
  • Đề xuất lộ trình hành động cụ thể cho giai đoạn 2023 - 2025, góp phần hiện thực hóa mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của huyện Bình Gia đạt trên 45% và giảm nghèo bền vững.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là xây dựng mô hình giải pháp ứng dụng thực tiễn, có khả năng chuyển hóa trực tiếp thành kế hoạch hành động cho chính quyền cấp huyện miền núi. Để phát huy tối đa giá trị nghiên cứu, các cơ quan chuyên trách huyện Bình Gia cần khẩn trương phối hợp với các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trên địa bàn, bắt tay triển khai đồng bộ các giải pháp ngay trong năm 2024 nhằm tạo bước chuyển biến căn bản cho nguồn nhân lực địa phương.