phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về đào tạo kiến thức thông tin cho ngƣời dùng tin tại Trƣờng Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam. Làm rõ một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến kiến thức thông tin, đào tạo kiến thức thôngtin cũng nhƣ thực trạng đào tạo kiến thức thông tin cho ngƣời dùng tại một số thƣ viện đại học tại Việt Nam và trên thế giới. Chƣơng 2: Thực trạng đào tạo kiến thức thông tin cho ngƣời dùng tin tại trƣờng đại học Quốc tế RMIT Việt Nam. Khảo sát thực trạng nhu cầu đào tạo kiến thức thông tin và công tác đào tạo kiến thức thông tin cho ngƣời dùng tại thƣ viện trƣờng đại học Quốc tế RMIT Việt Nam.
Chƣơng 3: Giải pháp để nâng cao hiệu quả đào tạo kiến thức thông tin cho ngƣời dùng tin tại Thƣ viện Trƣờng Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam Đề xuất một số giải pháp và định hƣớng nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động đào tạo kiến thức thông tin cho ngƣời dùng tin tại thƣ viện trƣờng đại học Quốc tế RMIT Việt Nam. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÀO TẠO KIẾN THỨC THÔNG TIN CHO NGƢỜI DÙNG TIN TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ RMIT VIỆT NAM 1.1 Những vấn đề chung về kiến thức thông tin và đào tạo kiến thức thông tin 1.1 Khái niệm về kiến thức thông tin Trên các diễn đàn về thông tin - thƣ viện tại Việt Nam đã và đang bàn luận về một khái niệm đƣợc cho là mới, đó là “Information Literacy” (IL). Ở Việt Nam, hiện đang có nhiều cách dịch và hiểu về thuật ngữ này khác nhau, tuy nhiên có 2 cách dịch đƣợc cho là phổ biến nhất đó là: kiến thức thông tin (KTTT) và kỹ năng thông tin (KNTT). Xuyên suốt luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ kiến thức thông tin để nói về “Information Literacy”.
Vậy kiến thức thông tin là gì? Khái niệm “kiến thức thông tin” trên thế giới không còn là một khái niệm mới mẻ. Đầu tiên, KTTT đƣợc Paul Zurkowski, chủ tịch Hội Công nghiệp Thông tin của Mỹ đề cập đến vào năm 1974. Theo ông, “một cá nhân có kiến thức thông tin là ngƣời biết cách sử dụng một nguồn thông tin rộng và lớn để giải quyết các vấn đề công việc và các vấn đề về xã hội” [23]. Sự ra đời khái niệm này là do sự bùng nổ thông tin từ những năm 60 của thế kỉ XX, đặt nền tảng cho sự hình thành xã hội thông tin.
Xã hội thông tin đã mang lại những thay đổi to lớn về phƣơng thức sinh hoạt và những khả năng mới của con ngƣời. Để thích nghi với một xã hội luôn luôn biến động mà trong xã hội đó nắm đƣợc thông tin là yếu tố quyết định thành công của mỗi cá nhân, tập thể, con ngƣời cần phải có những kiến thức và kỹ năng cơ bản nhất định về thông tin. Tuy nhiên, đến năm 1989, khi bản báo cáo của Hiệp hội Thƣ viện Mỹ (ALA) đƣợc công bố và thông qua khái niệm mới của Breivik (1985) thì khái niệm KTTT mới đƣợc các cơ quan giáo dục đặc biệt chú ý đến. Từ đó đến nay, trên thế giới đã xuất hiện rất nhiều các định nghĩa về KTTT.
Theo Hiệp hội Thƣ viện Đại học và Nghiên cứu Mỹ (ACRL)[37; tr.1] thì KTTT là “một tập hợp các khả năng, cho phép các cá nhân có thể nhận biết nhu cầu thông tin của bản thân và có thể xác định, đánh giá và sử dụng thông tin một cách hiệu quả”. 14 z KTTT là cần thiết và cơ bản cho việc học tập suốt đời, bởi vì cá nhân đó có thể tự xác định nhu cầu tin của mình, biết đƣợc các nguồn thông tin, đánh giá nguồn thông tin và sử dụng thông tin một cách hiệu quả phục vụ cho mục đích cụ thể. Theo đó, một cá nhân có KTTT là cá nhân có khả năng: Xác định và mở rộng nhu cầu tin, Tiếp cận thông tin theo nhu cầu một cách hiệu quả, Đánh giá nguồn thông tin, Biến nguồn thông tin đƣợc lựa chọn thành tri thức, Sử dụng nguồn thông tin một cách hiệu quả cho mục đích cụ thể, Hiểu biết về các vấn đề kinh tế, pháp lý và xã hội trong việc sử dụng nguồn thông tin, Truy cập và sử dụng thông tin có đạo đức và hợp pháp. Trong bài viết của mình, tác giả Tô Thị Hiền còn có một khái niệm khác về KTTT, đó là “Tin trí”.
Tác giả định nghĩa nhƣ sau: “tin trí là một tập hợp hài hòa giữa các yếu tố: tri thức, kỹ năng, quan điểm và hành vi của mỗi cá nhân trong việc thu thập, xử lý, sử dụng, sáng tạo và phổ biến thông tin phù hợp với nhu cầu phát triển của mỗi cá nhân trong xã hội”[13tr.110] Tác giả Trƣơng Đại Lƣợng thì cho rằng KTTT là “tập hợp kiến thức và kỹ năng thông tin bao gồm: nhận dạng nhu cầu tin, tìm kiếm thông tin, đánh giá và khai thác thông tin, tƣ duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề và sự hiểu biết về các vấn đề đạo đức, kinh tế, pháp lý, xã hội có liên quan đến truy cập, sử dụng và trao đổi thông tin” Nhƣ vậy, KTTT chính là sự kết hợp một cách thuần thục giữa tri thức và kỹ năng của một cá nhân liên quan đến việc xác định nhu cầu thông tin, định vị đƣợc nguồn thông tin, đánh giá nguồn thông tin, tổ chức và sử dụng thông tin một cách hiệu quả, có đạo đức và hợp pháp. Cần phải hiểu rõ rằng, KTTT không chỉ đơn thuần là những kỹ năng tìm kiếm và sử dụng thông tin một cách hiệu quả, nó bao gồm cả những am hiểu kiến thức về thể chế xã hội, đạo đức và pháp luật trong việc sử dụng nguồn thông tin tìm 15 z đƣợc. Đây có lẽ là mảng kiến thức cần đƣợc nhấn mạnh và chú trọng nhiều nhất, đặc biệt trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay, khi mà vấn đề bản quyền và sở hữu trí tuệ đang là vấn đề đƣợc đem ra tranh cãi nhiều nhất, đặc biệt vấn đề đạo văn và thiếu trích dẫn tài liệu trong giáo dục đại học khi thông tin bùng nổ và Internet ra đời. Máy tính và Internet ra đời mang lại cho con ngƣời nhiều sự thuận lợi trong vấn đề tiếp cận thông tin, tuy nhiên điều đó cũng mang lại nhiều vấn đề nhất là vấn đề sao lƣu, và sử dụng thông tin một cách tràn lan mà không trích dẫn nguồn.2 Nội hàm của khái niệm kiến thức thông tin Tại nhiều nƣớc phát triển trên thế giới, để hình thành các khung nội dung KTTT, ngƣời ta thƣờng dựa vào các tiêu chuẩn hoặc các yêu cầu/mục tiêu mà ngƣời đƣợc xem là có KTTT cần đạt đƣợc.
Ví dụ nhƣ trong Tiêu chuẩn về năng lực KTTT trong giáo dục đại học (Information literacy competency standard for Higher Education), Hiệp hội Thƣ viện Đại học và Nghiên cứu Hoa Kỳ (ACRL - Assosiation of Colleges and Research Libraries) đã đƣa ra 5 tiêu chuẩn về năng lực KTTT trong giáo dục đại học. Sinh viên đƣợc cho là có KTTT khi thể hiện đƣợc 5 khả năng sau: a. Có thể xác định đƣợc bản chất và mở rộng nhu cầu tin Định nghĩa và làm rõ nhu cầu tin Xác định loại hình và định dạng của nguồn thông tin Xem xét giá trị và lợi ích của thông tin Đánh giá lại bản chất và mở rộng nhu cầu tin b. Có thể truy cập thông tin theo nhu cầu một cách tối ƣu và hiệu quả Lựa chọn các phƣơng pháp tìm kiếm thích hợp, hoặc hệ thống truy hồi thôngtin để truy cập thông tin theo yêu cầu một cách hiệu quả Xây dựng và áp dụng hiệu quả chiến lƣợc tìm tin Dùng các phƣơng pháp khác để tìm kiếm thông tin trực tuyến hoặc trực tiếp Chỉnh sửa chiến lƣợc tìm tin (nếu cần thiết) Trích dẫn, ghi lại và quản lý thông tin và nguồn tin 16 z c.
Có thể đánh giá thông tin và nguồn tin một cách khách quan, biến các thông tin đƣợc chọn lựa thành kiến thức của mình và đánh giá hệ thống Tóm tắt đƣợc ý chính từ các thông tin đƣợc thu thập Làm rõ và sử dụng các tiêu chí ban đầu để đánh giá thông tin và nguồn tin Tổng hợp các ý chính để xây dựng các khái niệm mới So sánh kiến thức mới với kiến thức ban đầu để xác định các giá trị mới, các mâu thuẫn và các đặc tính khác của thông tin Xác định xem kiến thức mới có ảnh hƣởng đến hệ thống đánh giá cá nhân hay không và từng bƣớc điều hòa sự khác biệt đó Xác nhận thông tin, giải nghĩa thông tin thông qua các cuộc thảo luận giữa các cá nhân, chuyên gia chuyên ngành và/hoặc ngƣời có chuyên môn Xem xét, đánh giá và so sánh những gì tìm đƣợc với nhu cầu tin ban đầu d. Sử dụng thông tin một cách hiệu quả với tƣ cách là cá nhân hoặc thành viên của nhóm để hoàn thành mục đích nhất định. Sử dụng thông tin mới và thông tin ban đầu để xây dựng kế hoạch, tạo ra những sản phẩm cụ thể hoặc để trình bày Xem xét lại quá trình phát triển của sản phẩm hoặc việc trình bày Truyền bá sản phẩm hoặc trình bày một cách hiệu quả cho ngƣời khác e. Hiểu biết về các vấn đề kinh tế, pháp lý và xã hội trong việc sử dụng nguồn thông tin và truy cập và sử dụng thông tin có đạo đức và hợp pháp Sinh viên hiểu đƣợc các vấn đề về đạo đức, pháp lý và kinh tế xã hội liên quan đến thông tin và công nghệ thông tin Sinh viên hiểu và tuân theo luật, các quy tắc, các chính sách và các quy trình trong việc tiếp cận và sử dụng nguồn thông tin 17 z Sinh viên biết cách sử dụng nguồn thông tin trong việc trình bày và phổ biến sản phẩm thông tin của mình.
Theo Khung tiêu chuẩn KTTT của Úc và New Zealand thì ngƣời có KTTT phải đạt đƣợc 6 tiêu chuẩn chính sau: a. Khả năng nhận biết nhu cầu thông tin và mở rộng nhu cầu tin. Có khả năng xác định đƣợc nhu cầu tin: tham khảo nguồn thông tin cơ bản để gia tăng sự hiểu biết vể chủ đề; xác định các từ khóa, thuật ngữ cốt lõi; xác định hoặc chỉnh sửa nhu cầu tin cho phù hợp; tham khảo ý kiến của ngƣời khác để xác định chủ đề nghiên cứu hoặc nhu cầu tin.