Phần mở đầu và Phần kết luận, Phần nội dung gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận về đào tạo nguồn nhân lực và đào tạo trong công việc cho đội ngũ giảng viên trẻ Chƣơng 2. Thực trạng đào tạo trong công việc cho đội ngũ giảng viên trẻ Chƣơng 3. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế và một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động đào tạo trong công việc cho đội ngũ giảng viên trẻ 16 CHƢƠNG 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC VÀ ĐÀO TẠO TRONG CÔNG VIỆC CHO ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRẺ 1. Lý luận chung về đào tạo nguồn nhân lực 1. Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực Khái niệm nguồn nhân lực đƣợc sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới. Phạm Minh Hạc, nguồn lực con ngƣời đƣợc thể hiện thông qua số lƣợng dân cƣ, chất lƣợng con ngƣời (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất) [15].
Theo nhƣ Nicolas Herry trong cuốn Public Administration and Public affairss thì: “nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới” [5,11]. Nói về nội hàm khái niệm đào tạo, có nhiều tài liệu đã đƣa ra những cách hiểu thể hiện những quan điểm khác nhau nhƣ: Theo từ điển Tiếng Việt “đào tạo” là: “việc làm cho người học trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” [27, 279]. Theo định nghĩa này, có thể hiểu từ “đào tạo” là một hoạt động trang bị cho ngƣời học năng lực (kiến thức, kỹ năng, thái độ) theo một tiêu chuẩn nhất định để có năng lực và trở nên hữu ích trong những công việc cụ thể hoặc hoạt động xã hội nào đó. Theo Giáo trình Quản trị nhân lực của ThS.
Nguyễn Vân Điềm và PGS. Nguyễn Ngọc Quân, Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân thì: “Đào tạo (hay còn được gọi là đào tạo kỹ năng) được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng 17 cao trình độ kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn” [13, 153]. Đào tạo là quá trình tác động đến con ngƣời nhằm làm cho con ngƣời đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, những kỹ năng, những kỹ xảo.một cách có hệ thống chuẩn bị cho ngƣời đó hoàn thành tốt nhiệm vụ đƣợc giao, đáp ứng công việc của hiện tại.
Hay nói cách khác là quá trình cung cấp cho ngƣời lao động những kỹ năng và kiến thức cụ thể nhằm giúp đỡ họ thực hiện công việc tốt hơn. Nhƣ vậy, đào tạo nguồn nhân lực là các hoạt động học tập bổ sung cho ngƣời lao động những kiến thức, kỹ năng cần thiết để ngƣời lao động phát huy đƣợc những năng lực, phẩm chất, trình độ chuyên môn để thực hiện tốt những yêu cầu do công việc đặt ra. Từ đó, tạo tiền đề và động lực để ngƣời lao động hƣớng tới những cơ hội đƣợc phát triển công việc trong tƣơng lai. Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình bù đắp những thiếu hụt về chuyên môn, kỹ năng; thái độ cho ngƣời lao động để họ đáp ứng yêu cầu của công việc hiện tại khi họ đƣợc đảm nhận.
Trong quá trình đào tạo, mỗi ngƣời sẽ đƣợc bù đắp những thiếu hụt trong học vấn, đƣợc truyền đạt những kinh nghiệm thiết thực và mở rộng tầm hiểu biết để không những có thể làm tốt công việc đƣợc giao mà còn có thể đƣơng đầu với những thách thức, biến đổi của môi trƣờng xung quanh ảnh hƣởng đến hoạt động của tổ chức. Công tác đào tạo nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng, nó góp phần nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực để thực hiện thành công các mục tiêu mà tổ chức đề ra. Đào tạo nguồn nhân lực là giải pháp có tính chiến lƣợc giúp tạo ra lợi thế cho tổ chức điều kiện môi trƣờng ngày càng cạnh tranh quyết liệt. Vai trò cụ thể của đào tạo nguồn nhân lực nhƣ sau: 18 Hoạt động đào tạo giúp cho nguồn nhân lực trong tổ chức nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả công việc, thực hiện thành công những mục tiêu mà tổ chức đề ra.
Ngƣời lao động thực hiện công việc với năng suất và chất lƣợng cao hơn nên tổ chức giảm bớt khâu kiểm tra, giám sát, giảm bớt áp lực với ngƣời lao động. Cả ngƣời lao động và cả đơn vị đều có lợi, ngƣời lao động đƣợc tự chủ hơn trong công việc còn đơn vị có điều kiện để giảm bớt nhân lực ở bộ máy giám sát và đƣa họ thực hiện những công việc đang đòi hỏi nhiều nhân lực hơn. Duy trì và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, tăng khả năng cạnh tranh của tổ chức trong điều kiện môi trƣờng ngày càng cạnh tranh quyết liệt. [13] Tăng cƣờng sự gắn kết giữa ngƣời lao động với tổ chức.
Thông qua đào tạo, ngƣời lao động đƣợc nâng cao kỹ năng giải quyết công việc, trình độ chuyên môn, phẩm chất nghề nghiệp. Đó là những tiền đề quan trọng giúp ngƣời lao động hoàn thành tốt công việc đƣợc giao, đƣợc nhận những khoản thù lao xứng đáng về vật chất và tinh thần. Bên cạnh đó, ngƣời lao động còn có cơ hội để thăng tiến lên những vị trí cao hơn hoặc công việc tốt hơn trong tƣơng lai. Còn với tổ chức, ngƣời lao động cảm thấy hài lòng và hạnh phúc với tổ chức thì tổ chức sẽ đƣợc lợi.
Các mục tiêu mà tổ chức đề ra đều đƣợc ngƣời lao động hoàn thành tốt nhất với khả năng của mình. Quy trình đào tạo nguồn nhân lực Quy trình đào tạo nguồn nhân lực đƣợc thể hiện theo sơ đồ sau [17]: Hình thức đào tạo Nhu cầu Mục tiêu Nội dung Tổ chức Năng lực đào tạo đào tạo đào tạo đào tạo PP đào tạo Tiêu chuẩn đánh giá Đánh giá HQ đào tạo 19 - Xác định nhu cầu đào tạo: Nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực đƣợc quy định bởi sự thiếu hụt về số lƣợng, kiến thức, công nghệ, tay nghề và thái độ cần thiết để thực hiện công việc. Nhu cầu của đào tạo nguồn nhân lực là sự kết hợp nhu cầu mong muốn đƣợc đào tạo của cá nhân ngƣời lao động và nhu cầu của tổ chức là nâng cao hiệu suất của nguồn nhân lực. - Mục tiêu đào tạo: Mục tiêu đào tạo là những chuẩn mực hành vi phải đạt đƣợc trong một không gian và thời gian xác định sau khi đƣợc đào tạo.
Việc xác định mục tiêu đào tạo càng cụ thể chúng ta càng dễ dàng xác định đƣợc nội dung đào tạo và những tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả đào tạo. Mục tiêu của đào tạo nguồn nhân lực là một hoạt động nhằm củng cố, nâng cao trình độ kỹ năng, kỹ xảo, rèn luyện thái độ của ngƣời lao động để thực hiện mục tiêu chung của tổ chức. - Nội dung đào tạo: Nội dung đào tạo là những tri thức, trình độ chuyên môn, kỹ năng - kỹ xảo và thái độ cần trang bị cho ngƣời lao động trong quá trình đào tạo. Tri thức là những kiến thức cơ bản về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học công nghệ, nghệ thuật ứng xử, vv.
Đào tạo tri thức nhằm tạo ra những hiểu biết cơ bản, ban đầu để ngƣời đƣợc đào tạo có thể tiếp cận những kiến thức chuyên môn hay chuyên ngành (trình độ chuyên môn) và kỹ năng - kỹ xảo cũng nhƣ thái độ cần thiết khi hành nghề. Trình độ chuyên môn là sự nắm bắt, nhận thức và khả năng xử lý công việc của ngƣời lao động trong phạm vi ngành nghề ngƣời đó đƣợc đào tạo. Đào tạo trình độ chuyên môn là quá trình trang bị hiểu biết chuyên ngành nhằm tạo ra năng lực xử lý thông tin và ra quyết định khi làm việc trong một nghề xác định. 20 Kỹ năng - kỹ xảo là khả năng thuần thục trong việc thực hiện và phối hợp các thao tác khi tiến hành công việc.
Đào tạo kỹ năng - kỹ xảo là quá trình trang bị và rèn luyện nghiệp vụ có tính tác nghiệp của một công việc xác định. Thái độ là ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần làm việc trong quá trình làm việc, nó thể hiện cách nhìn nhận của ngƣời lao động đối với công việc của họ. Đào tạo hay giáo dục thái độ là quá trình trang bị những nội quy, quy định về kỷ luật, vệ sinh và an toàn lao động cũng nhƣ trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp cho ngƣời lao động. Nội dung đào tạo đƣợc chia thành khối các môn học: Khối các môn học chung; khối các môn học cơ sở; khối các môn chuyên môn nghề nghiệp; phần thực tập.
- Hình thức đào tạo: Hình thức đào tạo nguồn nhân lực rất đa dạng, phong phú, tuỳ vào từng căn cứ mà có các hình thức khác nhau. Căn cứ vào đối tƣợng: đào tạo nghề mới; đào tạo lại; đào tạo nâng cao Căn cứ hình thức tổ chức đào tạo: đào tạo theo trƣờng lớp; đào tạo, hƣớng dẫn, kèm cặp tại nơi làm việc; đào tạo tập trung hay không tập trung. Căn cứ vào thời gian đào tạo có hai hình thức: đào tạo ngắn hạn; đào tạo dài hạn. Căn cứ theo phạm vi: đào tạo trong nƣớc - đào tạo ở nƣớc ngoài.
- Phương pháp đào tạo: Phƣơng pháp đào tạo là cách thức truyền đạt nội dung đào tạo cho đối tƣợng. Trong thực tế, có nhiều phƣơng pháp khác nhau nhƣ: phƣơng pháp bắt chƣớc, phƣơng pháp tham gia, phƣơng pháp học trên mẫu, phƣơng pháp liên tƣởng, phƣơng pháp nghiên cứu tình huống. 21 - Tổ chức đào tạo: Sau khi đƣợc phê duyệt kế hoạch đào tạo, chuyên viên nhân sự chuẩn bị các điều kiện cần thiết để triển khai hoạt động đào tạo nhƣ: giảng viên, học viên, cơ sở vật chất, tài chính, vv… và giám sát trong thời gian đào tạo để đảm bảo theo đúng mục tiêu và nội dung đào tạo đã xác định từ trƣớc. - Hiệu quả đào tạo: Qua quá trình đào tạo, ngƣời lao động sẽ có tri thức, trình độ chuyên môn, kỹ năng - kỹ xảo và thái độ nhất định, còn công việc cuối cùng của các nhà quản lý là đánh giá hiệu quả của quá trình đào tạo.