Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Các khái niệm liên quan 1. Cán bộ, công chức cấp xã Cán bộ là công dân nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thông qua hình thức đó là bầu cử, hay phê chuẩn, hay qua hình thức bổ nhiệm để giữ một chức danh, chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng, Nhà nước Việt Nam, hoặc tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp trung ương, cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cũng như cấp huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc tỉnh.
Là đối tượng thuộc trong biên chế của Nhà nước và hưởng lương từ quỹ lương của ngân sách Nhà nước. Một vấn đề cần lưu ý về đội ngũ cán bộ mà chúng ta thường xuyên tiếp xúc đó là cán bộ ở cấp xã, phường, thị trấn [14]. Đây là đội ngũ được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ tại hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, bí thư, phó bí thư Đảng ủy, hay người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; những người này phải là công dân Việt Nam đã được tuyển dụng theo tiêu chuẩn của pháp luật để giữ một chức danh nhất định về chuyên môn họ đăng ký ứng tuyển và xắp xếp của cơ quan có thẩm quyền. Cán bộ cấp xã là đội ngũ trong biên chế nhà nước và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước đúng theo cấp bậc lương ứng với vị ví phụ trách [21].
Công chức Nhà nước đầu tiên phải là công dân Việt Nam, họ trở thành công chức bằng cách thông qua hình thức đó là tuyển dụng, hay thông qua hình thức bổ nhiệm vào các ngạch, chức vụ hoặc chức danh phù hợp trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội từ cấp trung ương, đến cấp tỉnh, và cấp huyện; tại cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; tại đơn vị, cơ quan thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan hoặc hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội, thuộc đối tượng trong biên chế và hưởng lương phù hợp với vị trí làm việc từ ngân sách của nhà nước; ngoài ra đối với đơn vị sự nghiệp công lập thì công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý mức lương của đối tượng này được trích ra bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [27]. Công chức Nhà nước được Nhà nước trao cho một quyền hạn nhất định để thực hiện công việc được giao phù hợp với vị trí việc làm của họ. Trong thời gian đảm nhiệm chức vụ đó thì chỉ được tiến hành các hoạt động trong phạm vi quyền hạn của họ. Họ được giao và phải gánh vác một nghĩa vụ nhất định đối với Nhà nước, đồng thời thực hiện và hoàn thành nó [33].
Cần lưu ý, không như người lao động là hoạt động của họ tạo ra của cải vật chất, công chức nhà nước thực hiện hoạt động thi hành công vụ và không trực tiếp tạo ra của cải vật chất. Đây là hoạt động thuộc về lĩnh vực quản lý Nhà nước. Ở đây ngân sách Nhà nước là quỹ lương mà công chức được nhận từ đó. Việc tạo ra quan hệ lao động này được xác lập dựa trên sự chấp thuận đồng ý của công chức và hơn hết đó là yếu tố quyết định ở đây là ý chí của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Đặc điểm của CBCC cấp xã: Thứ nhất, CBCC cấp xã là người trực tiếp làm việc với người dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều do đội ngũ CBCC cấp xã phổ biến, triển khai để nhân dân hiểu rõ và thi hành. Thứ hai, hoạt động thực hiện công vụ của CBCC cấp xã mang tính đa dạng, phức tạp. Thứ ba, hiện nay trình độ của CBCC cấp xã đã từng bước được nâng lên.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vẫn còn nhiều bất cập về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nhận thức, năng lực thực hiện công vụ, đặc biệt là CBCC ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thứ tư, khác với cán bộ, công chức ở các cấp khác, ở cấp xã có đặc thù là CBCC cấp xã do nhân dân bầu ra (có nơi chiếm 60%), chính vì vậy số lượng thường xuyên bị biến động do hết nhiệm kỳ nhân dân lại bầu những đại diện mới. Thứ năm, CBCC cấp xã cả nước hiện nay rất đông (gần bằng số lượng CBCC hành chính của trung ương và 64 tỉnh thành cộng lại) [10]. Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã Quan điểm về đào tạo và bồi dưỡng nhận được sự nghiên cứu của nhiều tác giả, trong quy định về ĐT, BD cũng có quy định rõ về đào tạo và bồi dưỡng, cụ thể: Đào tạo: Có nhiều định nghĩa khác nhau về đào tạo, như: đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học nắm vững những tri thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách có hệ thống, chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận một công việc nhất định; đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học.
Hoạt động đào tạo được xem như là một quá trình, quy trình theo các bước khác nhau giúp cho người được đào tạo có kiến thức chuyên môn, nghề nghiệp, kỹ năng nghiệp vụ theo những tiêu chuẩn nhất định do yêu cầu đòi hỏi của công việc. Đào tạo gắn với các cơ sở đào tạo và văn bằng chứng chỉ, thường được thực hiện trong thời gian dài. Bồi dưỡng là quá trình cập nhật kiến thức còn thiếu hoặc lạc hậu, bổ túc kinh nghiệm hoặc các hoạt động nhằm tạo điều kiện cho người học có cơ hội để củng cố và mở rộng những kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ theo chuyên ngành, có tính ứng dụng để lao động nghề nghiệp có hiệu quả hơn. Bồi dưỡng thường là giai đoạn tiếp theo sau đào tạo, là hoạt động hướng vào mục tiêu bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp cho những người đã được đào tạo sau một thời gian công tác nhất định.
Bồi dưỡng không gắn liền với văn bằng, cũng không nhất thiết do các cơ sở đào tạo thực hiện, mà quan trọng là bổ sung, tăng cường kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng để đáp ứng yêu cầu công việc và hoạt động bồi dưỡng thường chiếm thời gian ngắn là vài ngày, vài tuần hoặc vài tháng. Một quan niệm khác lại cho rằng hoạt động bồi dưỡng là quá trình hoặc các bước thực hiện nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách thường xuyên, quá trình tăng cường năng lực nói chung, trên cơ sở kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo, quan niệm này đã coi bồi dưỡng là một dạng của hệ đào tạo. Bồi dưỡng đó là quá trình đào tạo lại về chuyên môn nghiệp vụ [27]. Bồi dưỡng với ý nghĩa là nâng cao hơn trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công việc đang làm, quá trình này diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu.
Mục tiêu của bồi dưỡng không nhằm vào bằng cấp mà là bổ sung và nâng cao kiến thức, kỹ năng giúp cho người học cách thực thi công việc, nhiệm vụ theo cách tốt nhất, phù hợp và đáp ứng yêu cầu đặt ra của thực tiễn [32]. Bồi dưỡng được coi là một loại hình hoạt động gắn liền với các môi trường công việc. Theo quy định tại Khoản 2, Điều 5, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 05/3/2010 về ĐT, BD công chức đã định nghĩa: “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [11]. Từ những cách tiếp cận trên, có thể nêu lên khái niệm về bồi dưỡng như sau: Bồi dưỡng là một dạng đào tạo nhằm nâng cao hơn trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người lao động để họ làm tốt hơn nghề nghiệp, công việc đang làm.
Tăng cường ĐT, BD công chức là một trong những giải pháp quan trọng để xây dựng đội ngũ công chức đáp ứng thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đối với các cơ quan quản lý, sử dụng công chức thì ĐT, BD là hoạt động thường xuyên nhằm cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng, phương pháp làm việc cho công chức nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định về trình độ đào tạo, ngạch chức danh đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ công chức. ĐT, BD CBCC là yêu cầu tất yếu, là sự đảm bảo quan trọng và là con đường hữu hiệu để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong QLNN. Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 1.
Khái niệm Thuật ngữ “chính sách công” được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống cũng như trong ngôn ngữ hàng ngày nhưng với những cách hiểu chưa hoàn toàn thống nhất. Từ giác độ ngôn ngữ học, chính sách công được hiểu là “chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực KT-XH” [23]. Theo quan niệm về chính sách và chính sách công như trên, trong phạm vi luận văn có có thể hiểu: “Chính sách ĐT-BD CBCC cấp xã là một tập hợp các quyết định của Nhà nước, bao gồm mục tiêu và các giải pháp về ĐT-BD đội ngũ CBCC cấp xã nhằm xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã có kiến thức, kỹ năng, và phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước”. Chính sách ĐT-BD CBCC cấp xã là một công cụ vô cùng quan trọng, được thực hiện một cách sâu rộng trong tất cả các cơ quan hành chính nhà nước trong việc nâng cao năng lực của đội ngũ công chức cấp xã.
Do vậy, tầm quan trọng của công cụ này được thể hiện qua những vai trò sau: Một là, chính sách ĐT-BD CBCC cấp xã có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao năng lực đội ngũ công chức. Từ đó, giúp công chức thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn. Hai là, chính sách ĐT-BD CBCC cấp xã sẽ góp phần thực hiện thành công chương trình cải cách hành chính trong giai đoạn mới.