Mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về đào tạo, bồi dƣỡng công chức Chƣơng 2: Thực trạng đào tạo, bồi dƣỡng công chức tại Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện đào tạo, bồi dƣỡng công chức tại Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 11 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm công chức Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 ra đời (có hiệu lực từ 01/01/2010) là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trƣớc đến nay cắt nghĩa đƣợc rõ ràng hơn về khái niệm “công chức”. Tại Luật số 52/2019/QH14 đƣợc Quốc hội ban hành ngày 25/11/2019 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức năm 2008 và Luật viên chức năm 2010, tại khoản 2, điều 4, khái niệm “công chức” đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tƣơng ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc.
Phân loại công chức Việc phân loại ngƣời làm việc trong các cơ quan nhà nƣớc nói chung và công chức nói riêng rất phức tạp nhƣng đƣợc nhiều nƣớc quan tâm nhằm mục đích quản lý có hiệu quả nguồn nhân lực của nhà nƣớc. Tùy thuộc vào mục đích phân loại, có thể có nhiều cách phân loại khác nhau. - Phân loại theo bằng cấp, học vấn; - Phân loại theo tổ chức làm việc; - Phân loại theo hệ thống thứ bậc trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nƣớc; - Phân loại theo ngành (chuyên môn), ngạch (cấp bậc) và bậc (vị trí). 12 So với quy định trƣớc đây, từ ngày 01/7/2020 Luật Cán bộ, công chức sửa đổi có hiệu lực thì công chức đã đƣợc bổ sung 01 ngạch nữa là “ngạch khác”.
Hiện nay, Chính phủ chƣa có văn bản nào quy định chi tiết về “ngạch khác” vừa đƣợc bổ sung này mà mới chỉ lên kế hoạch xây dựng các Nghị định hƣớng dẫn Luật sửa đổi tại Quyết định 69/QĐ-BNV ngày 21/01/2020 của Bộ Nội vụ. Đồng thời, Luật Cán bộ, công chức sửa đổi cũng quy định cụ thể 02 cách phân loại công chức: - Căn cứ vào lĩnh vực ngành, nghề, chuyên môn, nghiệp vụ; - Căn cứ vào vị trí công tác, công chức. Đào tạo, bồi dưỡng 1. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng Điều 4 Quy chế Đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức, viên chức Ngân hàng Nhà nƣớc đƣợc ban hành kèm theo Quyết định số 2613/QĐ-NHNN ngày 28/12/2018 đã định nghĩa: - Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học, trình độ học vấn, gắn với việc cấp văn bằng đƣợc pháp luật Việt Nam công nhận.
- Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc. Loại hình bồi dƣỡng bao gồm: khóa học, hội thảo, thực tập, tƣ vấn, huấn luyện, tập huấn và khảo sát. Hình thức bồi dƣỡng bao gồm: tập trung, bán tập trung, trực tuyến, từ xa. - Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch là trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động theo chƣơng trình quy định cho ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức.
- Bồi dưỡng theo vị trí việc làm là trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phƣơng pháp cần thiết để đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm. 13 - Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý là trang bị kiến thức, kỹ năng, phƣơng pháp làm việc theo chƣơng trình quy định cho từng chức vụ lãnh đạo, quản lý. Nhƣ vậy, có thể hiểu, về cơ bản các khái niệm “đào tạo” và “bồi dƣỡng” và tồn tại với 2 khái niệm độc lập. Tuy nhiên, trong thực tiễn vẫn còn một quan niệm mới là đào tạo bồi dưỡng là một thuật ngữ chung không tách rời.
Nguyên nhân là do cách hiểu đào tạo và bồi dƣỡng tuy là hai khái niệm khác nhau (nhƣ định nghĩa phía trên), nhƣng lại có chung mục đích làm cho ngƣời lao động có trình độ chuyên môn, khả năng xử lý công việc và năng lực công tác đƣợc tốt hơn. Trên thực tế có một số hoạt động đào tạo, hoặc bồi dƣỡng rất khó phân chia thành đào tạo hoặc bồi dƣỡng, bởi lẽ giữa chúng có sự đan xen và kế thừa lẫn nhau. Tóm lại, theo định nghĩa đƣợc công nhận bởi văn bản quy phạm pháp luật, có thể hiểu, đào tạo là thực hiện chƣơng trình khóa học dài hạn (đại học, sau đại học) mà văn bản chứng minh hoàn thành là văn bằng (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ); bồi dưỡng là thực hiện khóa học ngắn hạn nhằm nâng cao nghiệp vụ (theo ngạch, theo chức danh, theo vị trí công tác…) và đƣợc ghi nhận hoàn thành bằng chứng nhận, chứng chỉ. Đào tạo, bồi dưỡng công chức Đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ công chức là hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nƣớc, cơ sở đào tạo nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc một cách có hệ thống cho công chức theo tiêu chuẩn quy định của từng ngạch, nhiệm vụ, chức danh, giúp công chức đáp ứng yêu cầu công việc và thực hiện hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của mình.
Đào tạo, bồi dƣỡng công chức là một nội dung quan trọng trong công tác cán bộ, để nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức, góp phần đáng kể vào việc đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của hoạt động công vụ. Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng công chức 14 Nghị định 18/2010/NĐ-CP quy định mục tiêu đào tạo, bồi dƣỡng công chức nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, phƣơng pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ, góp phần xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp có đủ năng lực xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại. Vai trò của đào tạo, bồi dưỡng công chức - Để nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức có hai cách, gồm: tuyển dụng và đào tạo. Tuy nhiên, đối với một đơn vị hành chính thì việc tuyển dụng không phải là con đƣờng chính do chỉ tiêu tuyển dụng hàng năm không nhiều hay áp lực về tinh giản bộ máy, tinh giản biên chế.
Do đó, đào tạo, bồi dƣỡng công chức trở thành con đƣờng chính giúp nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức. Đào tạo, bồi dƣỡng công chức giúp sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức. - Hoạt động đào tạo, bồi dƣỡng công chức trong các cơ quan quản lý hành chính Nhà nƣớc là một công cụ của phát triển chức nghiệp: (i) hoàn thiện chất lƣợng dịch vụ cung cấp cho công dân; (ii) tăng số lƣợng dịch vụ đƣợc cung cấp; (ii) giảm chi phí hoạt động; (iv) giảm những sai phạm không đáng có; (v) tăng sự hài lòng của công dân với tổ chức Nhà nƣớc; (vi) tạo cho công chức cập nhật kiến thức của bản thân: bồi dƣỡng để công chức thực thi tốt các văn bản pháp luật mới; cung cấp những kiến thức về công nghệ mới; ngoại ngữ; tạo ra đội ngũ công chức có chuyên môn, kỹ năng để thực thi công vụ tốt hơn. - Thông qua đào tạo, bồi dƣỡng công chức, ngƣời lãnh đạo và cơ quan chủ quản có thể đánh giá đƣợc sự tiến bộ, thái độ và hành vi của công chức.
- Đáp ứng nhu cầu đƣợc phát triến, thể hiện khả năng của công chức và xây dựng cho họ một lộ trình nghề nghiệp rõ ràng. Phát triển nghề nghiệp là một trong những yếu tố hàng đầu làm nhân viên có thể gắn bó lâu dài với tổ chức. Nhờ đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng mà công chức sẽ có thể phát triển và thể hiện khả năng của bản thân, từ đó phấn đấu cho mình một lộ trình công danh rõ ràng, tạo động lực cống hiến cho cơ quan, đơn vị. Đặc điểm đào tạo, bồi dưỡng công chức - Đào tạo, bồi dƣỡng gắn với tiêu chuẩn ngạch công chức và vị trí việc làm của công chức.
Trên cơ sở hệ thống tiêu chuẩn ngạch hoặc vị trí việc làm, cần phải xác định khung năng lực cần thiết cho từng vị trí, từ đó thực hiện công tác tuyển dụng, bố trí, sử dụng đội ngũ công chức cho phù hợp. - Đào tạo, bồi dƣỡng vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm của công chức: đào tạo, bồi dƣỡng cho đối tƣợng công chức nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức, đồng thời góp phần đảm bảo lợi ích và phúc lợi cho từng công chức. Mặt khác, để thực hiện đƣợc nhiệm vụ quy định, đòi hỏi bản thân công chức phải nỗ lực nâng cao chất lƣợng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Muốn vậy, công chức phải có trách nhiệm tham gia học tập bồi dƣỡng để có đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ.
Nội dung đào tạo, bồi dƣỡng công chức Đào tạo, bồi dƣỡng công chức là một quá trình đi từ xác định mục tiêu cho đến kết quả, có sự tƣơng tác qua lại giữa các thành tố trong quá trình triển khai thực hiện. Quy trình đào tạo bồi dƣỡng thông thƣờng nhƣ sau: Sơ đồ 1.1: Quy trình đào tạo bồi dƣỡng (Nguồn: Michael Armstrong) 16 Hiểu đơn giản, hoạt động đào tạo, bồi dƣỡng công chức thƣờng theo các bƣớc: - Xác định nhu cầu đào tạo, bồi dƣỡng; - Lập kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng; - Tổ chức thực hiện kế hoạch; - Đánh giá đào tạo, bồi dƣỡng. X định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng Xác định nhu cầu đào tạo, bồi dƣỡng đƣợc hiểu là quá trình xác định xem việc đào tạo có cần thiết không. Đây là bƣớc quan trọng tiên quyết, ảnh hƣởng đến kết quả đào tạo, bồi dƣỡng.
Xác định nhu cầu đào tạo nhằm trả lời các câu hỏi chính nhƣ: Những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho vị trí công việc? Những kiến thức, kỹ năng cần thiết mà công chức hiện có? Những kiến thức, kỹ năng còn thiếu của công chức đối với vị trí công việc? Làm cách nào để xác định đúng những thiếu hụt đó? Những khóa học nào cần tổ chức để khắc phục những thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng cho công chức?