Chương 1 NHỮ NG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC TRONG THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC NGÀNH THANH TRA XÂY DỰNG 1. Quan niệm về đa ̣o đức Đạo đức là một hiện tƣợng xã hội phản ánh các mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ bản thân cuộc sống của con ngƣời. Đạo đức là tập hợp những quan điểm của một xã hội, của một tầng lớp xã hội, của một tập hợp ngƣời nhất định về thế giới, về cách sống. Nhờ đó con ngƣời điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng xã hội.
Tƣ̀ thời cổ đa ̣i đế n nay xã hô ̣i loài ngƣời đã hiǹ h thành rấ t nhiề u quan niê ̣m về đa ̣o đƣ́c. Ở mỗi xã hô ̣i khác nhau sẽ hin ̀ h thành nhƣ̃ng quan niê ̣m về đa ̣o đƣ́c khác nhau và ở hình thái nhà nƣớc càng phát triển thì quan niệm về đạo đức càng đƣợc hoàn thiện hơn. Cụ thể trong lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời từ cổ đại đến nay đã hình thành một số quan niệm chủ yếu về đạo đức nhƣ sau: Quan niệm đạo đức thời Cổ đại: Quan niệm về đạo đức hình thành rất sớm ở Hy Lạp cổ đại. Nó phản ánh cuộc đấu tranh giữa quan niệm duy vật và duy tâm, giữa tầng lớp chủ nô dân chủ tiến bộ và tầng lớp chủ nô quý tộc và phần nào phản ánh cuộc đấu tranh giữa nô lệ và chủ nô.
Đại biểu xuất sắc cho chủ nghĩa duy vật và tầng lớp chủ nô dân chủ tiến bộ là Đêmôcrít, Êpiquya, còn đại biểu cho chủ nghĩa duy tâm và chủ nô quý tộc là Platôn. Các nhà triết học đại diện cho chủ nghĩa duy vật quan niệm đối tƣợng nghiên cứu của đạo đức học là cuộc sống, hành vi, số phận của mỗi cá nhân. Hạnh phúc hay bất hạnh, giàu có hay nghèo nàn, thành công hay thất bại đều do hoạt động kinh tế (thủ công và thƣơng mại) tạo ra, không do "Thƣợng đế" chi phối. Tiêu chuẩn đánh giá đạo đức tốt hay xấu của từng cá nhân gắn động cơ, ý thức với hành động, đó là quan niệm tiến bộ của ông.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Còn đại diện cho chủ nghĩa duy tâm thì cho rằng hạt nhân trung tâm trong đạo đức của ông là lƣơng tâm trong sáng, là sự lành mạnh về tinh thần của từng cá nhân. Quan niệm đạo đức đƣợc phát triển theo hƣớng duy tâm khách quan. Nếu Xôcrát thừa nhận đạo đức con ngƣời và tri thức thống nhất là một, cái thiện phổ biến (cái chung) là cơ sở của đạo đức, là tiêu chuẩn của đức hạnh, thì Platôn lại cho rằng linh hồn đƣợc tạo ra bởi "Thƣợng đế "mới là cơ sở, nền tảng tạo nên đời sống đạo đức. Theo Platôn, giữa linh hồn và thể xác hoàn toàn đối lập nhau, thể xác chỉ là chỗ trú ngụ tạm thời của linh hồn.
Thể xác không bất diệt, chỉ có linh hồn mới bất diệt. Nhƣng linh hồn cũng bao gồm ba phần: lý tính (trí tuệ), xúc cảm và cảm tính, trong ba phần ý chỉ lý tính là bất diệt; tƣơng ứng với ba phần của linh hồn con ngƣời, xã hội sẽ có ba hạng ngƣời, ba đẳng cấp tùy thuộc ngƣời có bộ phận linh hồn nào giữ vai trò chủ đạo. Ông cho rằng, chỉ những nhà triết học, những ngƣời thông thái và quý tộc mới đạt đạo đức thanh cao, đạo đức của thƣờng dân chỉ là sự kiềm chế dục vọng thấp hèn, họ chỉ thích nghi với lao động chân tay, còn nô lệ thì không có đạo đức, vì không phải là ngƣời, chỉ là "động vật biết nói". Sau thời kỳ cổ đại, với sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất, cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt của giai cấp nô lệ chống giai cấp chủ nô và các cuộc chiến tranh liên miên, tàn khốc giữa các nhà nƣớc chủ nô đã dẫn đến sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ cả ở phƣơng Đông lẫn phƣơng Tây làm xuất hiện chế độ xã hội mới; xã hội phong kiến.
Chế độ phong kiến dựa trên cơ sở sở hữu ruộng đất lớn. Khác với nô lệ, ngƣời nông dân có công cụ sản xuất riêng và có nền kinh tế riêng dựa vào lao động cá nhân và đem lại cho họ những điều kiện sinh sống cần thiết. Bọn địa chủ vẫn có quyền điều nông dân ra khỏi lãnh đại của mình, nhƣng không có quyền giết họ. Đó là một bƣớc tiến của đạo đức xã hội, thật ra địa vị ngƣời nông dân cũng chẳng hơn bao nhiêu so với nô lệ.
Sự phụ thuộc về kinh tế và sự cƣỡng ép trực tiếp đã 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com buộc họ phải cày cấy ruộng đất của địa chủ và làm trăm nghìn công việc có lợi cho giai cấp phong kiến. Ở đây, tồn tại nhiều kiểu đạo đạo đức, có cả đạo đức của chính giai cấp phong kiến lại có đạo đức của giai cấp nông dân và nhân dân lao động. Đạo đức thống trị trong xã hội phong kiến trƣớc hết và đạo đức học của gai cấp phong kiến. Tuy nhiên, tƣ tƣởng đạo đức học ở phƣơng Tây thƣờng xuất phát từ những tín điều của tôn giáo.
Ở phƣơng Đông đạo đức học không hoàn toàn lệ thuộc vào tôn giáo mà thƣờng xuất phát từ quan hệ giữa ngƣời và ngƣời đƣợc nhìn qua lăng kính của học thuyết nho giáo. Yêu cầu chung của đạo đức thống trị là bầy tôi phải trung với vua, chƣ hầu phải trung với thiên tử, nông dân phải trung với địa chủ. Khổng Tử đặc biệt coi trọng lễ (tức là trật tự phong kiến), yêu cầu phải chính danh định phận (vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con), yêu cầu này về sau đƣợc cụ thể hoá trong công thức tam cƣơng ngũ thƣờng. Ở phƣơng Tây, giai cấp phong kiến đƣa lên hàng đầu khái niệm danh dự để cho mỗi cá nhân quý tộc ý thức đƣợc địa vị của mình trong xã hội, khẳng định thân phận và phẩm chất đạo đức của cá nhân gắn liền trƣớc hết với tính "cao quý" của dòng dõi.
Ở đâu, giai cấp phong kiến cũng coi khinh lao động và quần chúng lao động, đòi hỏi họ phải "giữ phận", chung thuỷ và trung thành vô điều kiện với bề trên. Theo giai cấp phong kiến, trật tự phong kiến là thiêng liêng, do trời định; Khổng Tử dạy phải biết "sợ mệnh trời, sợ đại nhân (tức là bậc trên), sợ lời nói của thánh nhân (tức là nhà tư tưởng phong kiến)" [28, tr.7], còn giáo hội phƣơng Tây thì truyền bá tƣ tƣởng phục tùng tuyệt đối đấng Chúa Trời coi đó là phẩm chất đạo đức cao nhất. Quan niệm đạo đức của giai cấp thống trị vừa ảnh hƣởng, vừa đối lập với quan niệm đạo đức của nông nô và nông dân. Một mặt, chính sách ngu dân của phong kiến, địa vị xã hội hèn mọn của nông dân, nuôi dƣỡng ở họ tính yên phận, 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhẫn nhục, thói quen phục tùng, thái độ tôi tớ đối với phong kiến.
Mặt khác, sự bóc lột tàn bạo cũng nhƣ thực trạng đạo đức giả trong bản thân giai cấp phong kiến làm nảy sinh lòng phẫn nộ và tinh thần phản kháng, nổ ra thành những cuộc khởi nghĩa nông dân liên miên suốt thời trung đại. Quan niệm đạo đức thời Cận đại: Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, nhất là khoa học tự nhiên, của sản xuất và cuộc đấu tranh liên tục của giai cấp nông dân chống địa chủ, phong kiến… đã thúc đẩy xã hội phƣơng Tây bƣớc vào một thời kỳ mới - thời kỳ Phục hƣng và Cận đại (từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII). Phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa đƣợc hình thành và trở thành xu thế lịch sử tất yếu, không có thế lực nào ngăn cản nổi. Chính sự quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tƣ bản là tiền đề thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của triết học, trong đó có đạo đức học, nhất là các tƣ tƣởng nhân đạo.
Tin tƣởng vào sức mạnh của con ngƣời, coi "con ngƣời là thƣớc đo của mọi vật" chi phối suy nghĩ, hành động của các nhà tƣ tƣởng. Những quan niệm đạo đức tiêu biểu của thời Phục Hƣng và Cận đại tuy có mặt hạn chế nhƣng quan niệm về đạo đức cũng có những yếu tố tích cực đáng đƣợc kế thừa và phát triển trong hoàn cảnh mới nhƣ: - Đề cao rèn luyện, tu dƣỡng bản thân (Nho giáo, Phật giáo); - Phát hiện nguồn gốc sinh ra mọi bất công trong xã hội là sở hữu tƣ nhân; - Tin vào sức mạnh của con ngƣời, con ngƣời là chủ thể của xã hội; - Tìm ra nguồn gốc thúc đẩy xã hội phát triển là quá trình nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn; - Gắn xây dựng đạo đức với xây dựng luật pháp, nhà nƣớc; - Đề cao vai trò, vị trí của cá nhân trong xã hội… Chính những yếu tố tích cực tiến bộ này đã đƣợc C.Ăngghen kế thừa để xây dựng nên học thuyết cách mạng, khoa học về đạo đức. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quan niệm đạo đức của Mác – xít: Những quan niệm đạo đức trƣớc Mác tuy có những hạn chế do hoàn cảnh lịch sử, do địa vị giai cấp và nhận thức, nhƣng cũng có đóng góp nhất định để hình thành một bộ môn khoa học mới - đạo đức học mác-xít. Đạo đức học mác-xít đã khắc phục mặt hạn chế, kế thừa yếu tố tiến bộ để đƣa ra quan niệm đúng đắn, khoa học về đạo đức.
Theo quan niệm mác-xít: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con ngƣời trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng đƣợc thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dƣ luận xã hội [28, tr. Định nghĩa trên cho thấy, triết học, chính trị, pháp quyền, nghệ thuật, tôn giáo… đạo đức là những hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống xã hội dƣới các góc độ, khía cạnh khác nhau. Đời sống xã hội (xét đến cùng là chế độ kinh tế - xã hội) là nguồn gốc nảy sinh các quan điểm về đạo đức của con ngƣời. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, thuộc kiến trúc thƣợng tầng, phản ánh tồn tại xã hội về mặt đạo đức, khi tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội (trong đó có đạo đức) cũng thay đổi theo, C.