Chương 1 QUAN NIỆM CƠ BẢN CỦA NHO GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC NGƯỜI CẦM QUYỀN 1. Người cầm quyền phải lấy “Đạo đức” làm gốc Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức. Nho giáo ra đời chủ yếu từ thực trạng hết sức rối loạn của xã hội Trung Quốc thời cổ đại. Mục đích của những người sáng lập và phát triển Nho giáo là nhằm giải đáp vấn đề và nhiệm vụ thực tiễn của xã hội Trung Quốc đặt ra lúc bấy giờ là sự cần thiết phải khắc phục cái “thực trạng” đó, phải ổn định trật tự, kỷ cương xã hội, đưa xã hội từ “loạn” tới “trị”.
Với tư cách là một học thuyết chính trị - đạo đức, Nho giáo đã đưa ra những quan niệm về thiện, ác, đạo làm người cùng những chuẩn mực, những quy tắc ,quy phạm đạo đức để điều chỉnh, đánh giá hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với gia đình, nước, thiên hạ. Hệ thống các phạm trù, nguyên lý, chuẩn mực, nguyên tắc, quy phạm đạo đức ấy trong học thuyết Nho giáo không chỉ phản ánh các quan hệ đạo đức mà còn phản ánh các quan hệ chính trị của xã hội và con người. Do vậy, những phạm trù, nguyên lý, chuẩn mực, quy phạm đạo đức còn là những phạm trù, nguyên lý, chuẩn mực chính trị, nhằm mục đích chính trị. Theo quan niệm của Khổng Tử “Đạo” chính là năm mối quan hệ xã hội cơ bản của con người, được gọi là nhân luân, Mạnh Tử gọi là ngũ luân: vua - tôi, cha - con , chồng - vợ, anh - em, bạn - bè.
Trong đó ba mối quan hệ quan hệ đầu tiên vua - tôi, cha - con, chồng - vợ được coi là cơ bản nhất mà sau này được Đổng Trọng Thư gọi là tam cương. Đó là sợi dây ràng buộc con người từ trong quan hệ gia đình đến quan hệ xã hội: quân vi thần cương, phu vi phụ cương, phụ vi tử cương (Vua là cương lĩnh của bề tôi, chồng là cương lĩnh của vợ, cha là cương lĩnh của con). 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Đức” chính là phẩm chất quan trọng mà con người cần phải có để thực hiện tốt năm mối quan hệ cơ bản nêu trên. Khổng tử nhấn mạnh đức cơ bản của con người là là: Trí, Nhân, Dũng.
Ông nói “Người có ba đức trí, nhân, dũng là thiên hạ có đạo đức’’(Trí, nhân, dũng tam dã thiên hạ chi đạt đức dã) [21, tr. Mạnh Tử lại nêu lên tứ đức: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, ông cho rằng bốn đức này khi sinh ra con người đã sẵn có và nó có nguồn gốc từ bốn đầu mối là lòng trắc ẩn, lòng tu ố, lòng từ nhượng, lòng thị phi. Bốn đức ấy là biểu hiện tính thiện của con người, trong đó lòng trắc ẩn (biết thương xót) là đầu mối của đức nhân, lòng tu ố (biết thẹn, biết ghét) là đầu mối của đức nghĩa, lòng từ nhượng (cung kính, khiêm nhường) là đầu mối của lễ, lòng thị phi (biết phân biệt đúng, sai, phải, trái) là đầu mối của đức trí. Đến Đổng Trọng Thư, ông nêu lên ngũ thường bao gồm năm chuẩn mực đạo đức: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín.
Tam cương kết hợp với ngũ thường được gọi tắt là đạo “cương - thường”, hay mở rộng ra sự kết hợp ngũ luân với ngũ thường gọi là luân thường. “Cương - thường” là nội dung cơ bản của trong đạo làm người của Nho giáo. “Cương - thường” là nguyên tắc chi phối mọi hành động, suy nghĩ của con người, góp phần điều chỉnh hành vi của con người, là nhân tố quan trọng làm cho xã hội ổn định, trật tự, có trên có dưới. Nó là cơ sở bảo đảm cho quyền thống trị của thiên tử.
Là hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến, mục đích của Nho giáo là nhằm bảo vệ chế độ phong kiến tập quyền, cho nên Nho giáo quan tâm đặc biệt đến đạo đức của người cầm quyền (vua và tầng lớp quý tộc, quan lại). Để ổn định xã hội, Nho giáo khuyên các bậc cầm quyền theo đường lối đức trị. Đó là đường lối trị nước, quản lý xã hội dựa trên những chuẩn mực đạo đức. Đó là hệ thống những chuẩn mực, những nguyên tắc, quy phạm đạo đạo đức để điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ xã hội, nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng.
Đức trị phản ánh nhu cầu lợi ích của giai cấp thống trị, được biểu hiện dưới hình thức những 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quy định và những đánh giá trên cơ sở xác lập những giá trị luân lý, được mọi người thừa nhận một cách tự giác. Nó được củng cố bằng những tấm gương đạo đức, đặc biệt là đạo đức của những người cầm quyền. Các nhà Nho từ Khổng Tử đều đặc biệt đề cao vai trò của đạo đức, coi đạo đức là công cụ, là phương tiện chủ yếu nhất, hữu hiệu nhất để đạt được những mục đích chính trị. Trong công việc chính trị, người cầm quyền phải đặt đạo đức lên hàng đầu, lấy đạo đức làm gốc.
Nho giáo khẳng định đạo đức là gốc của con người, đặc biệt là các bậc quân tử cầm quyền. Nói đến con người là nói đến đạo đức. Thiên “Học phi” - sách Luận ngữ viết “Làm người có nết hiếu đễ thì ít ai dám xúc phạm bề trên. Không xúc phạm bề trên mà thích làm loạn thì chưa từng có.
Người quân tử chăm chú vào việc gốc. Gốc mà vững thì đạo đức sinh ra. Hiếu đễ là gốc của đức nhân… [29, tr. Khi quan niệm về chính trị Khổng tử khẳng định phải lấy đạo Nhân làm gốc: lấy hiếu đễ, lễ nhạc làm cơ bản cho sự giáo hóa để gây thành đạo nhân; lấy chính trị làm công dụng của đạo nhân mà thi thố ở đời.
Ông nói rằng: “Nhân đạo mẫn chính, địa đạo mẫn thụ. Phù chính giả giã, bồ lư giã. Cố vi chính tại nhân, thủ nhân dĩ thân, tu thân dĩ đạo, tu đạo dĩ nhân” (cái nhanh thành hiệu của của đạo người là việc chính trị, cái nhanh thành hiệu của đạo đất là việc mọc của cây cối. Ấy việc chính trị cũng như cây lau cây sậy.
Cho nên làm chính trị cốt ở dùng người hiền; sửa mình, mà dùng người hiền, lấy đạo mà sửa mình, lấy nhân mà sửa đạo) [26, tr. Nghĩa là việc chính trị cốt ở đạo nhân, lấy nhân mà sửa đạo, lấy đạo mà sửa mình. Có sửa được mình cho ngay chính thì kẻ hiền tài mới theo mà giúp mình thì việc chính trị rất có công hiệu, khác nào đốt đất thì cây cỏ mọc lên nhanh chóng vậy. Đạo nhân vốn là cái gốc của việc chính trị cho nên bậc quân tử cần sửa mình cho đến bậc nhân, để đem cái đạo của mình mà thi hành ra khắp thiên hạ.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trước thời Khổng tử đã xuất hiện khái niệm “quân tử”. Nhưng thời đó nó trỏ cái địa vị trong xã hội chứ không trỏ cái cái phẩm tính của con người. Người có phận cao (tối đại đa số ở trong giai cấp quý tộc) cai trị dân, có “Đức” hay không đều gọi là quân tử. Đến thời mình, Khổng Tử đã đề ra những tiêu chuẩn về tài đức, về tư cách phẩm chất để trở thành người quân tử đáng được nắm quyền trị dân.
Nhờ đó quân tử không còn thuần túy chỉ người cầm quyền như trước nữa mà chỉ những người có “Đức” cai trị dân. Khổng Tử nói nhiều đến “Đức” nhất là “Đức” của người cầm quyền. Ông coi đạo đức là công cụ, phương tiện chủ yếu nhất của giai cấp phong kiến trong việc cai trị và quản lý xã hội. Khổng Tử cho rằng đạo đức, lễ giáo có vai trò quyết định trong viêc duy trì địa vị, quyền lợi của giai cấp thống trị, trong việc củng cố, duy trì chế độ phong kiến, trong việc cai trị xã hội.
Trong sách Luận ngữ, Khổng Tử nói: “Muốn dẫn dắt dân chúng, nhà cầm quyền phải dùng đức hạnh; muốn trị dân phải dùng lễ tiết” [9, tr. Ông luôn khẳng định đạo đức rằng là biện pháp hiệu quả nhất trong việc thu phục nhân tâm. Trong thiên Vi chính, sách Luận ngữ, ông nói: “Như ai thi hành việc chính trị, cầm quyền cai trị nước nhà mà biết đem cái đức của mình bổ hóa ra, thì mọi người đều phục tùng theo. Tỷ như ngôi sao bắc đẩu ở một chỗ mà các ngôi sao khác chầu quanh mình” [26, tr.
Hay trong thiên Nhan uyên, sách Luận ngữ có ghi chép: khi Quý Khang tử một quyền thần nước Lỗ hỏi ông về chính trị: có nên giết kẻ vô đạo để cho người khác trở thành lương thiện không, thì ông trả lời: “Trị dân cần gì phải giết người. Đức hạnh của người quân tử “người trị dân tốt” như gió, mà đức của dân như cỏ, gió thổi thì cỏ tất rạp xuống” (Quân tử chi đức phong, tiểu nhân chi đức thảo. Thảo thương chi phong tất yển) [26, tr. Như vậy, nếu người trên mà có đức thì cảm hóa dân rất dễ, vì dân có sẵn lòng phục, trọng, noi gương người trên mà có đức.
Khổng tử tin rằng: “Dùng chính lệnh để dẫn dắt dân, dùng hình phạt để bắt dân vào khuôn phép, dân tránh khỏi tội nhưng không biết hổ thẹn. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dùng đạo đức để dẫn dắt dân, dùng lễ giáo để đặt dân vào khuôn phép, dân biết hổ thẹn mà lại theo con đường chính” [26, tr. Trong sách Mạnh tử, Mạnh tử cũng cho rằng người quân tử bao giờ cũng phải lấy đạo đức nhân, nghĩa, lễ, trí làm tông chỉ của mình. Ông nói: “Đất rộng, dân nhiều, đó là sự muốn của người quân tử, nhưng chưa phải là cái vui của người quân tử.
Đứng đầu trong thiên hạ, định được hòa bình cho dân bốn bể, đó là cái vui của người quân tử, nhưng chưa phải là cái mà người quân tử cho là bản tính của mình…Cái mà người quân tử cho là bản tính của mình là nhân, nghĩa, lễ, trí, căn bản ở trong tâm người ta” [26, tr. Người quân tử lấy nhân nghĩa làm bản tính của mình, thì trong việc chính trị cũng phải lấy nhân nghĩa làm gốc. Cho nên khi ông sang nước Lương, vua Huệ vương hỏi ông: “Ông có điều gì làm lợi cho nước Lương không”. Ông gạt đi và nói: “Vương hà tất viết lợi.
Diệc hữu nhân nghĩa nhi dỹ hỹ” (Vua hà tất phải nói lợi. Chỉ có nhân nghĩa mà thôi) [26, tr.