CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE VĂN HÓA DOANH NGHIỆP VÀ CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ VĂN HÓA TỎ CHỨC OCAI 1. Tống quan về văn hóa doanh nghiệp 1. Khái niệm văn hóa VH là một khái niệm đa nghĩa được các nhà nghiên cứu nhìn từ các góc độ tiếp cận khác nhau trên mỗi lĩnh vực.
Khi nghiên cứu về van đề liên quan đến VH thì khái niệm VH luôn được các nhà nghiên cứu khai thác và đưa ra một định nghĩa thống nhất từ tích tiếp cận theo lĩnh vực nghiên cứu. Nguồn gốc của VH từ tiếng Latinh nghĩa là Culture. Về sau, khái nệm VH ngảy càng được sử dụng phô biến dé chỉ học vấn, học thức, phép lịch sự. Theo sự phát triển của các hoạt động đời sống xã hội, khái nệm VH được mở rộng trong nhiều lĩnh vực của đời sống.
Theo quan niệm Mac xít, VH là một hình thái ý thức xã hội nó gan liền với các hoạt động sống của con người. “Văn hóa được biểu thị như một phương thức hoạt động của con người, bao chứa toàn bộ các sản phẩm vật chất và tỉnh thần của con người cũng như năng lực phát triển của chính bản thân con người” [1,14] H6 Chí Minh cho rằng “Vi /ẽ sinh ton cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức su dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa ”[9,3]. Với cách hiểu này, VH sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra.
VH theo cách nói của Hồ Chí Minh sẽ là một “bách khoa toàn thư” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người. Ông Federico Mayor Zaragoza, Tổng Giám đốc UNESCO từng phát biểu tại Thập kỷ quốc tế phát triển VH (1988 - 1997): “Van hóa đã phản ánh cuộc sống đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thé kỷ 16 nó đã cau thành nên hệ thong các giá trị, truyền thong, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng cua minh” [1,14] VH là sự khác biệt, nó là một phạm trù đa dạng, được nhìn nhận từ nhiều góc độ và cách tiếp cận, lĩnh vực khác nhau, do đó khái niệm về VH còn thiếu thong nhất. Tuy nhiên, du có nhiều định nghĩa khác nhau về VH, luận văn nay của tác giả tiếp cận theo cách hiểu: “Văn hóa được hiểu là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh than của hoạt động của con người trong các quan hệ với môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội được lưu giữ, truyén thụ, tiếp biến từ thé hệ này sang thé hệ khác nhằm duy trì và phát triển cuộc sống của cộng dong, hướng đến cái đúng, cái tốt đẹp. Từ những hoạt động của con người trong các mối quan hệ giữa con người với môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội đã hình thành nên một lối sống, một cách thức ứng xử, một thái độ.
cua con người đối với vũ trụ và đổi với nhau, được biểu hiện thành những gia trị, những hệ thong chuẩn mực xã hội, những quan điểm và những biểu tượng hay hệ tư tưởng và triết lý sống” [1,16] VH là một phạm trù đa dạng về cách nhìn, tiếp cận nhưng nhìn chung có thê thấy rằng Văn hóa luôn được thé hiện và có thé nhận diện thông qua những dấu hiệu rất đặc trưng — biểu trưng về bản sắc văn hóa nhất định. Với sự phát triển của xã hội ngày nay, VH không chỉ dừng lại ở việc có thể nhận diện bằng các biểu trưng, hơn thế nữa VH có thé đo lường được bằng các tiêu chí, phương pháp định lượng, định tính mà được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đưa ra. Tiếp cận VH ở một phạm trù hẹp hơn, trong lĩnh vực quản lý tổ chức, quản lý doanh nghiệp, thì VHDN được xem là một van dé được nhiều nhà nghiên cứu, nhiều doanh nhân, nhà quản lý muốn khai thác tìm hiểu, đánh giá va phát trién VHDN bền vững, mang đậm nét đặc trưng của doanh nghiệp. Khái niệm văn hóa tổ chức Khái niệm "văn hóa tô chức" (Organization Culture) được tông - tích hợp từ hai khái niệm "văn hóa" và "tổ chức".
Khi kết hợp thành khái niệm "văn hóa tô chức", dù nghĩa đã được khu biệt, hẹp lại nhưng vẫn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau. Sau đây là một số định nghĩa đã được công bồ va sử dụng phé biến: Theo Eldrige và Crombie (1974): Khi nói đến văn hóa tổ chức hay văn hóa của một tổ chức là nói đến các tiêu chuẩn, giá trị, tín ngưỡng, cách đối xử. được thé hiện qua việc các thành viên liên kết với nhau đề làm việc. Đặc trưng của một tổ 17 chức cụ thé nào đó được thé hiện ở lịch sử của nó với những ảnh hưởng của hệ thống cũ, lãnh đạo cũ trong việc xây dựng con người.
Điều đó chứng tỏ ở sự khác nhau giữa việc đi theo thói quen, luật lệ, hệ tư tưởng cũ và mới, cũng như sự lựa chọn chiến lược cho tổ chức.[8,2] Theo Louis (1980): Văn hóa tô chức là tập hợp hệ thống các quan niệm chung của các thành viên trong tổ chức. Những quan niệm này phan lớn được các thành viên hiểu ngầm với nhau và chỉ thích hợp cho tô chức riêng của họ. Các quan niệm này được truyền cho các thành viên mới. [8,2] Theo Tunstall (1983): Văn hóa tô chức có thé được mô tả như một tập hợp chung các tín ngưỡng, thông lệ, hệ thống giá trị, quy chuân hành vi ứng xử và cách thức hoạt động riêng của từng tổ chức.
Các mặt đó quy định mô hình hoạt động của tổ chức và cách ứng xử của các thành viên trong tô chức đó. [8,2] Theo Farmar (1990): Văn hóa tổ chức được hiểu là tổng của các quan niệm, niềm tin, giá trị - những yếu tố mà các thành viên của tô chức chia sẻ, chuyền tải thông qua: "Làm cái gi? Làm như thé nào? va Ai làm?". [8,2] Những định nghĩa trên tạo nên quan niệm về văn hóa tô chức ma trong thực tế được biểu đạt gắn với từng loại hình thé chế nghề nghiệp như: văn hóa công ty, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa nhà trường, văn hóa cộng đồng của một tổ chức nao đó. Và từ các định nghĩa, có thể đưa ra quan niệm chung về văn hóa tổ chức, đó là: "Văn hóa tổ chức là toàn bộ các yếu tô văn hóa được chủ thé ( tổ chức) chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong quá trình hoạt động từ đó tạo nên bản sắc riêng có của một tổ chic", Chon lọc là sự gan lọc những mặt bat hop lý, tiếp biến mat hợp lý dé tao "nguyên liệu đầu vào" cho quá trình sáng tạo văn hoá.
Tạo ra là quá trình chuyển hoá cái đã chọn lọc dé sản sinh nên những giá tri, biểu tượng vả chuẩn mực văn hoá mới gan với sắc thái riêng biệt của từng chủ thé sáng tạo văn hoá. Sử dụng là ứng dụng các giá trị, biểu tượng, chuẩn mực văn hoá được chọn lọc và tạo ra để nâng cao hiệu quả hoạt động của tô chức, trước hết là tạo ban sắc và thương hiệu. Với những đặc trưng như vậy, văn hóa tô chức có vai trò gắn kết các thành viên thành một khôi cộng cảm, cộng lợi và cộng mệnh; tạo nên sự ôn định băng * ThS. Nguyễn Viết Lộc, Văn hóa tổ chức Đại học Quốc gia Hà Nội trong boi cảnh doi mới và hội nhập, Tạp chí Khoa học ĐH QGH N, Kinh tế và Kinh doanh 25 (2009) 230-238 18 cách đưa ra những chuẩn mực dé hướng dẫn các thành viên đi theo mục đích chung của tô chức một cách tự giác, tự nguyện.
Các yếu tố văn hóa được chọn lọc và tạo ra có vai trò như là một cơ chế khẳng định mục tiêu của tổ chức, hướng dẫn, uốn nắn những hành vi ứng xử lẫn nhau giữa các thành viên trong tô chức, giữa cá nhân với tô chức, giữa thành viên với lãnh đạo. Khai niệm văn hóa doanh nghiệp VHDN là một bộ phận của VH, đồng thời nó cũng chịu ảnh hưởng và tác động từ nền VH chung của cộng đồng, quốc gia mà trong đó nó tồn tại VHDN được nghiên cứu phản ánh cách tiếp cận từ góc độ quản lý thực hành trong doanh nghiệp, nó được xem xét với tư cách là một công cụ quản ly được vận dung đề điều hành hoạt động của doanh nghiệp, trong môi trường kinh doanh toàn cầu hóa. Tương tự như “văn hóa”, VHDN cũng được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Do vậy, VHDN cũng có nhiều tên gọi khác nhau, như VHDN, VH công ty, VH tô chức,.
Xung quanh khái nệm VHDN, với mỗi góc độ tiếp cận khác nhau thì mỗi học giả lại đưa ra một định nghĩa khác nhau về VHDN. Theo Georges de Saite Marie, chuyên gia Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ, “Văn hóa doanh nghiệp là tong hợp các giá trị, các biểu tượng, các huyển thoại, nghỉ thức, các điều cam ki, các quan điểm triết hoc, đạo đức tạo thành nên móng sâu sa cua doanh nghiệp” [1,20]. Theo đó, VHDN dưới góc nhìn của G. Saite Marie chủ yếu là những giá trị tinh thần, có ảnh hưởng chi phối đến đời sống tinh thần của mỗi thành viên trong doanh nghiệp.
Schein — nhà xã hội học người Mỹ đưa ra định nghĩa “Van hóa doanh nghiệp là tổng thể những thủ pháp và quy tắc giải quyết vấn dé thích ứng bên ngoài và thống nhất bên trong các nhân viên, những quy tắc đã tỏ ra hữu hiệu trong quá khứ và van dé cấp thiết trong hiện tại. Những quy tắc và những thủ pháp nay là yếu tố khởi nguôn trong việc các nhân viên lựa chọn phương thức hành động, phân tích và ra quyết định thích hợp. Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống những giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các nhân viên” [2,21]. Có thé thấy rằng, theo cách tiếp cận của 2„„?? E.Schein thì VHDN là những giá trị vô hình, những ràng buộc dễ dàng nhìn thấy thông qua các biểu hiện vật chất nhưng chúng lại có giá trị chi phối đến mọi suy 19 nghĩ và hành động của các thành viên.
Theo đó, VHDN có thé được xem như là những quy tắc ngầm, những triết lý quy định các chuẩn mực, quan niệm của doanh nghiệp.