chương 1 Luật doanh nghiệp năm 2014). Đặc điểm doanh nghiệp vận tải Giao thông vận tải không hề xa lạ với chúng ta, có thể nói đây là một ngành không thể thiếu được trong cuộc sống của con người. Đây là một ngành sản xuất về vật chất vô cùng đặc biệt, nó trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng trong khi đang thực hiện chức năng giao thông vận tải của mình. Ngành giao thông vận tải phải mang trên mình một nhiệm vụ quan trọng chính là giữ huyết mạch giao thông không thuận lợi thì hàng hóa cũng khó lưu thông và trao đổi được.
Hiện nay giao thông vận tải có các loại hình giao thông cơ bản như: Vận tải bằng đường bộ; Vận tải bằng đường sắt, vận tải bằng đường hàng không; Vận tải bằng đường biển; Vận tải bằng đường ống (vận tải bằng loại hình ngày chỉ dành cho dầu khí hoặc nhiên liệu). - Trong xu thế hội nhập và phát triển, nhu cầu vận tải hàng hóa và hành khách giữa các vùng, các khu vực và trên toàn thế giới tăng nhanh, và khi dịch vụ vận tải phát triển sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, nâng cao khả năng tiêu thị các sản phẩm xã hội bằng cách đưa sản phẩm nơi này đến nơi khác, đáp ứng nhu cầu đi lại, tham quan, du lịch của mọi tầng lớp dân cư. Chính vì thế số lượng doanh nghiệp tăng nhanh qua các năm, tỷ trọng doanh nghiệp hoạt động vận tải trên địa bàn Hải Phòng chiếm trên 50% trong tổng số các 7 doanh nghiệp đang hoạt động, ngày càng khẳng định vị trí của mình, nhiều thương hiệu đã có chỗ đứng vững chắc ở thị trường trong nước và quốc tế. - Đặc biệt, dịch COVID-19 khởi nguồn từ Vũ Hán - Trung Quốc đã và đang bùng phát trên 100 quốc gia, vùng lãnh thổ, làm hơn 300 nghìn người nhiễm bệnh và làm chết trên 3.500 người và sẽ còn để lại tác động đa diện về kinh tế - xã hội, không chỉ có Trung quốc, mà còn cả thế giới, trong đó có Việt Nam.
Đồng thời, đây còn là phép thử lớn đối với năng lực phản ứng chính sách và phản ứng thị trường trước dịch bệnh toàn cầu của hệ thống chính trị và doanh nghiệp cả nước. Cùng với đó thì các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố thường có quy mô nhỏ và vừa. Theo số liệu thống kê, có tới gần 99% các doanh nghiệp là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa. Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong huy động vốn và các nguồn lực để phát triển sản xuất kinh doanh.
Đồng thời, với quy mô nhỏ và vừa, các doanh nghiệp ít chú trọng đến hoạt động quản trị doanh nghiệp và chiến lược phát triển kinh doanh dài hạn. Theo đó, có thể bỏ lỡ cơ hội kinh doanh, cũng như nảy sinh tâm lý “ăn xổi” của các doanh nghiệp. Qua những khó khăn về dịch bệnh lây lan giữa các tỉnh thành phố trong nước và các quốc gia trên thế giới thì các doanh nghiệp vận tải phải đối đầu với không ít phải khó khăn, do không được thông thương qua các vùng có dịch. Chính vì lý do đó trong năm 2019 và năm 2020 vừa qua doanh thu đối với các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực vận tải đều giảm mạnh, nên số thuế thu nộp NSNN cũng bị giảm sút.
Vai trò của doanh nghiệp vận tải - Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải đem lại số thu ngân sách Nhà nước ngày càng chiếm tỷ trọng lớn. Vì vận tải là mạch máu của nên kinh tế, vận tải giúp nối liền các ngành, các đơn vị sản xuất với nhau, nối liền khu vực sản xuất với khu vực tiêu dùng, nối liền thành thị với nông thôn, miền ngược với miền xuôi. Góp phần làm cho nền kinh tế trở thành một khối thống nhất. Trong những năm gần đây doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải tăng về số lượng, sự đa dạng hóa về phương tiện, lĩnh vực kinh doanh góp phần 8 đáng kể thúc đẩy lưu thông hàng hóa.
Đã xuất hiện nhiều cơ sở kinh doanh hoạt động hiệu quả, sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú, được khách hàng trong và ngoài nước tin tưởng. Theo Bộ Thương mại, các doanh nghiệp hoạt động vận tải đóng góp gần một nửa số thu NSNN của cả nước. Doanh nghiệp hoạt động vận tải càng phát triển, sự đóng góp cho NSNN càng lớn. - Doanh nghiệp vận tải giữ vai trò lớn trong việc ổn định kinh tế, giải quyết công ăn việc làm ổn định, nguồn thu nhập cho hàng triệu lao động.
Từ đó góp phần giải quyết vấn đề việc làm của Nhà nước, giảm tỷ lệ thất nghiệp từ đó hạn chế tệ nạn xã hội. Vận tải đóng vai trò trọng yếu của quá trình phân phối và lưu thông, góp phần giúp các hoạt động sản xuất, kinh doanh, mua bán diễn ra nhanh chóng và liên tục. - Như vậy nếu không có vận tải thì cuộc sống văn minh hiện đại sẽ gần như không còn nữa, vì không thể đưa nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm, con người không đi xa được. Thu nhập và đời sống sẽ ảnh hưởng, cuộc sống có thể sẽ không dược tiếp xúc với thế giới phát triển.
Vì vậy các doanh nghiệp vận tải đang có vị trí rất quan trọng trong công cuộc đổi mới và phát triển Đất Nước. Tổng quan về thuế 1. Khái niệm, đặc điểm * Khái niệm: Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử. Lịch sử chứng minh rằng thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn với sự hình thành và phát triển của Nhà nước.
Để duy trì sự tồn tại đồng thời với việc thực hiện các chức năng của mình, nhà nước cần có nguồn vật chất để thực hiện những chi tiêu có tính chất xã hội. Bằng quyền lực chính trị, nhà nước thu một bộ phận của cải xã hội để có được nguồn vật chất đó. Từ đấy có khái niệm chung cho thuế: “Thuế là một khoản nộp ngân sách Nhà nước bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các luật thuế” [Khoản 1, Điều 3 Luật QLT 38/2019/QH14]. 9 * Đặc điểm: Trên phương diện điều chỉnh Pháp luật, việc nghiên cứu đặc tính của thuế một mặt giúp nhà làm luật lựa chọn sự điều chỉnh pháp luật một cách phù hợp đối với thuế.
Mặt khác giúp cho các đối tượng có liên quan thực hiện đầy đủ chức trách và nhiệm vụ của mình. - Thứ nhất: Thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách. Tính bắt buộc thể hiện ở chỗ, đối với Người nộp thuế, đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho nhà nước khi có đủ điều kiện mà không có phải là quan hệ thanh toán dù trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng. Đối với các Cơ quan Thuế, khi thay mặt Nhà nước thực hiện các hành vi nhất định cũng không được phép lựa chọn thực hiện hay không thực hiện hành vi thu thuế, có sự phân biệt đối xử đối với người nộp thuế.
Tính bắt buộc của thuế có mối quan hệ mật thiết với tính không hoàn trả, do thuế không có tính hoàn trả. Vì vậy để thực hiện thu thuế ổng định, phải sử dụng biện pháp bắt buộc như là một thuộc tính cơ bản của thuế. - Thứ hai: Thuế gắn với yếu tố quyền lực. Tính quyền lực của thuế được xuất phát bởi lý do xuất hiện các khoản thu về thuế của Nhà nước.
Bằng quyền lực chính trị, Nhà nước tạo ra cho thuế tính cố định, sự tuân thủ của đối tượng nộp thuế, tính cố định, sự tuân thủ của đối tượng nộp thuế, thuế suất.được quy định trước và mang tính ổn định trong một khoảng thời gian nhất định. Chỉ gắn với yếu tố quyền lực, thuế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn thu nhập tài chính cho Nhà nước. Điều đó cũng gián tiếp đảm bảo tính ổn định nguồn thu nhập tài chính của Nhà nước và đảm bảo tính ổn định của thuế. - Thứ ba: Thuế không mang tính đổi giá, không hoàn trả trực tiếp.
Thuế không phải là khoản phải trả khi các đối tượng nộp thuế đã nhận được một lợi ích hay quyền lợi cụ thể nào từ phía Nhà nước. Điều này cho phép phân biệt thuế với các khoản thu nộp do đối tượng nộp chỉ thực hiện nghĩa vụ của mình đã nhận được một lợi ích nhất định từ phía Nhà nước. Đó là các khoản thu từ phí, lệ phí. Thuế xuất hiện do nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, của các chủ thể quản lí xã hội.
Kết quả của việc sử dụng chủ thể quản lí xã hội. Tuy vậy kết quả những sản 10 phẩm do Nhà nước sử dụng các khoản thu từ thuế lại được thụ hưởng bởi chính những đối tượng nộp thuế, đó là sự yên bình xã hội, sự phát triển và thịnh vượng, chế độ phúc lợi công cộng.Nói khác đi, người nộp thuế được hoàn trả một cách gián tiếp những tiền nộp cho Nhà nước. Lệ phí môn bài a) Khái niệm “ Lệ phí môn bài là một khoản thu được tính và thu vào đầu năm đối với các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh”. b) Hệ thống văn pháp luật quy định - Nghị định số 139/2016/NĐ – CP ngày 04/10/2016 của chính phủ quy định về lệ phí môn bài; - Nghị định số 22/2020/NĐ – CP ngày 24/02/2020 của chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 139/2016/NĐ – CP ngày 04/10/2016 của Chính phủ quy định về lệ phí môn bài; - Thông tư 302/2016/TT – BTC ngày 15/11/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn về lệ phí Môn bài.
- Thông tư 65/2020/TT – BTC ngày 09/7/2020 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của 302/2016/TT – BTC ngày 15/11/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn về lệ phí Môn bài. c) Đối tượng nộp thuế “Người nộp lệ phí môn bài là tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bao gồm: - Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật. - Tổ chức được thành lập theo luật Hợp tác xã. - Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật.
11 - Tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân. - Tổ chức khác hoạt động sản xuất, kinh doanh. - Chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh của các doanh nghiệp, tổ chức nêu trên (nếu có). - Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh.