Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh lý đa u tuỷ xương 1. Đa u tuỷ xương Đa u tủy xương (tên tiếng Anh là Multiple Myeloma) là bệnh lý huyết học ác tính dòng lympho B với biểu hiện tăng sinh và tích luỹ các tương bào (Plasmocyte) trong tủy xương và ở các cơ quan khác nhau, tiết ra các globulin đơn dòng có mặt trong huyết thanh và/hoặc trong nước tiểu. Sự tích luỹ tương bào ác tính trong tuỷ xương và tăng tiết globulin miễn dịch đơn dòng gây phá huỷ tổ chức xương dẫn đến loãng xương, gãy xương, rối loạn sinh máu, tăng độ nhớt máu, tăng calci máu, xuất huyết, suy giảm miễn dịch, huỷ hoại đa cơ quan đặc biệt là suy thận.
Tương bào và dấu ấn miễn dịch của tương bào Tương bào là những tế bào phát triển và biệt hoá từ tế bào lympho B, sản xuất các kháng thể miễn dịch. Mỗi dòng tương bào chịu trách nhiệm tổng hợp 1 kháng thể globulin miễn dịch gồm 2 chuỗi nặng và 2 chuỗi nhẹ. Tương bào được tìm thấy trong tuỷ xương có vai trò tạo miễn dịch để bảo vệ cơ thể chống lại vi rút và vi khuẩn. Sự tăng sinh tương bào có thể là đa dòng lành tính để duy trì chức năng miễn dịch hoặc đơn dòng ác tính trong nhóm bệnh lý tân sinh tương bào.
Tương bào lành tính thường có kiểu hình miễn dịch CD38+ CD138+ CD19+ CD56- CD45+, không còn biểu hiện với các dấu ấn non như CD34 hay các dấu ấn đặc hiệu dòng như TdT, CD10, CD20, CD22 và CD79a. Ngoài ra do bản chất là tăng sinh đa dòng nên trong quần thể tương bào hiện diện 2 nhóm: 1 nhóm biểu hiện sự có mặt của Kappa và một nhóm biểu hiện sự có mặt của Lambda. Bên cạnh đó quần thể tương bào bình thường dương tính với CD27, CD81 và âm tính với CD28, CD117 (8, 9). Trong khi đó, tương bào ác tính thường thấy kiểu hình CD38+CD138+CD19- CD56±CD45-.
Khác với tương bào lành tính, tăng sinh tương bào ác tính chỉ tăng sinh với một dòng Kappa hoặc Lambda nên trong quần thể tương bào chỉ biểu hiện với một trong hai dấu ấn đồng thời dương tính với CD28 hoặc CD117, âm tính với CD27 hoặc CD81 (10-12). Do sự khác nhau về mức độ biểu hiện CD trên tế bào tương bào nên có 5 thể phân biệt được tương bào lành tính và tương bào ác tính, đồng thời xác định tỉ lệ tương bào trong tuỷ xương. Thuật ngữ MRD (Minimal Residual Disease) Theo dõi điều trị bệnh ung thư dạng đặc chủ yếu bằng các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, chụp CT, MRI, PET. Khối u được đánh giá tăng hay giảm dựa trên kết quả chẩn đoán hình ảnh của khối u.
Tuy nhiên các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh không thể đánh giá sau điều trị với dạng ung thư dạng lỏng như ung thư huyết học. Ung thư dạng lỏng được đánh giá bằng số lượng tế bào ác tính còn tồn tại sau các đợt điều trị. MRD hay được gọi là tồn lưu tối thiểu bệnh, dùng để chỉ lượng nhỏ tế bào ác tính còn tồn tại ở người bệnh trong quá trình điều trị hoặc sau điều trị. MRD là thuật ngữ sử dụng trong theo dõi sau điều trị các bệnh lý huyết học nói chung và bệnh lý đa u tuỷ xương nói riêng.
Phương pháp đếm tế bào dòng chảy Kỹ thuật đếm tế bào dòng chảy là phương pháp phân tích, đánh giá các đặc tính vật lý, hoá học của từng tế bào đơn lẻ từ một quần thể hỗn hợp tế bào khi chúng theo dòng chất lỏng đi lần lượt qua từng điểm cảm biến dưới chùm sáng laser. Ánh sáng tán xạ và ánh sáng huỳnh quang được thu lại bằng thấu kính và chuyển tới bộ phận cảm biến. Bộ phận cảm biến sẽ chuyển các tín hiệu này thành tín hiệu điện tử tỉ lệ với tín hiệu quang học thu được. Bằng cách sử dụng dấu ấn huỳnh quang để đánh dấu tế bào hoặc các hạt (vi sinh vật, nhân, nhiễm sắc thể) hấp phụ ánh sáng tán xạ/ ánh sáng huỳnh quang đặc trưng và phát ra dưới dạng bước sóng, hàng chục ngàn tế bào có thể nhanh chóng được phân tích đồng thời.
Ánh sáng tán xạ trong kỹ thuật có liên quan trực tiếp tới đặc điểm cấu trúc và hình thái học của tế bào còn ánh sáng huỳnh quang có nguồn gốc từ các đầu dò đánh dấu huỳnh quang có tỉ lệ tương ứng với đầu dò huỳnh quang gắn trên tế bào cũng như thành phần trong tế bào. Dữ liệu được xử lý bằng máy vi tính cho ra kết quả có độ tin cậy, độ nhạy và độ đặc hiệu cao. Kỹ thuật đếm tế bào dòng chảy ứng dụng thường xuyên trong nghiên cứu cũng như thực hành lâm sàng nhằm đếm số lượng và phân loại tế bào, xác định đặc điểm chức năng tế bào, phát hiện kháng nguyên đặc trưng trên màng, nguyên sinh chất và nhân. Đây cũng là những dấu ấn biệt hoá (CD: Cluster of differentiation) có giá trị cao trong định hướng 6 chẩn đoán, theo dõi điều trị và tiên lượng bệnh lý, đặc biệt là bệnh lý ác tính dòng tế bào máu.
Dịch tễ Bệnh lý ung thư huyết học chiếm khoảng 1% trong các bệnh ung thư nói chung. Bệnh đa u tuỷ xương là bệnh đứng thứ 2 sau U lympho ác tính trong các bệnh lý huyết học. Trên thế giới có khoảng 160000 bệnh nhân đa u tuỷ xương, tử vong khoảng 106000 (13). Tỉ lệ mắc bệnh khác nhau theo độ tuổi và giới tính.
Tuổi mắc bệnh trung bình là 65 tuổi và hiếm gặp ở những người dưới tuổi 40, tỉ lệ của nam với nữ là 1,6 và 1 (14). Tỉ lệ mắc bệnh cũng khác nhau giữa các chủng tộc, người da đen có tỉ lệ mắc cao hơn gấp 2 lần người da trắng và người châu Âu có tỉ lệ mắc cao hơn người châu Á (15). Tỉ lệ mắc bệnh trung bình từ 3-4/100000 dân. Khu vực có tỉ lệ mắc bệnh cao nhất là Bắc Mỹ sau đó đến châu Âu và Nam Mỹ.
Châu Á có tỉ lệ mắc bệnh thấp hơn và Việt Nam thuộc vùng có tỉ lệ mắc bệnh dưới 1/100000 dân (16). Tuy đây không được coi là bệnh di truyền nhưng vẫn ghi nhận các trường hợp có tiền sử gia đình (17). Tiêu chuẩn chẩn đoán Bệnh đa u tuỷ xương là bệnh lý ác tính về tương bào, khi tương bào ác tính tăng sinh và tích luỹ tại tuỷ gây ra các triệu chứng của bệnh. Do bản chất là tân sinh ác tính của tế bào lympho B, bệnh ban đầu tiến triển tiềm tàng từ các rối loạn tiền ác tính bao gồm MGUS và SMM.
MGUS là bệnh tăng gamma đơn dòng chưa có biểu hiện lâm sàng, chiếm 2% dân số trên 50 tuổi và tiến triển thành đa u tuỷ xương với tỉ lệ 1% mỗi năm (4, 18). Năm 2009 hiệp hội đa u tuỷ xương quốc tế IMWG (International Myeloma Working Group) đưa ra 2 tiêu chuẩn chẩn đoán xác định bệnh đa u tuỷ xương bao gồm: Tế bào tương bào trong tuỷ xương ≥ 10% hoặc sinh thiết chứng minh có u tế bào tương bào, và có tổn thương cơ quan có thể là do rối loạn tăng sinh tế bào tương bào (19). Hiệp hội đa u tuỷ xương quốc tế đưa ra 4 tiêu chuẩn xác định có tổn thương cơ quan do rối loạn tăng sinh tương bào: tăng canxi máu, thiếu máu, suy thận và có tổn thương xương. Tiêu chuẩn xác định tăng calci máu khi canxi huyết thanh > 11,5 mg/dl, Tiêu chuẩn xác định thiếu máu với hồng cầu bình sắc, hồng cầu bình thường với hemoglobin < 2 g/dl dưới mức giới hạn bình thường hoặc hemoglobin < 10 g/dl.
7 Tiêu chuẩn xác định suy thận khi creatinine huyết thanh > 1,73 mmol/l (hoặc > 2 mg/dl) hoặc độ thanh thải creatinin ước tính < 40 ml/phút. Tiêu chuẩn xác định có tổn thương xương với biểu hiện loãng xương, tiêu xương nặng hoặc gãy xương bệnh lý. Năm 2014 hiệp hội IMWG đã bổ xung mở rộng một số tiêu chuẩn chẩn đoán đa u tủy xương có giá trị tương đương với những tiêu chuẩn của năm 2009. Chẩn đoán xác định đa u tuỷ xương khi tỉ lệ tế bào tương bào trong tủy xương ≥ 60% hoặc tỉ lệ 2 chuỗi nhẹ tự do bệnh lý/ không bệnh lý trong huyết thanh ≥ 100.
Trường hợp bệnh nhân không có tăng Ig đơn dòng cũng không có sự thay đổi về tỉ lệ chuỗi nhẹ tự do nhưng có tỉ lệ tương bào trên 30% trong tủy thì dược xếp vào nhóm đa u tủy không tiết. Chẩn đoán xác định đa u tuỷ xương khi có nhiều hơn 1 vị trí tổn thương trên MRI với kích thước ≥ 5mm (20). Bệnh được chia thành 3 giai đoạn theo hệ thống phân chia giai đoạn quốc tế ISS (International Staging System) và ISS hiệu chỉnh (Revised International Staging System) dựa trên lượng β2 Microglobulin, Albumin kết hợp với đánh giá nguy cơ theo di truyền tế bào và LDH (18). Triệu chứng lâm sàng Đa u tuỷ xương được WHO 2016 xếp loại vào nhóm tân sinh ác tính của tế bào lympho B trưởng thành (18).
Những triệu chứng tổn thương do đa u tuỷ xương được viết tắt là CRAB (C: Calcium, R: Renal – thận, A: Anemia – thiếu máu, B: Bone – xương). Tăng calci máu trên 11,5mg/100ml gây biểu hiện khát, táo bón, buồn nôn, buồn ngủ. Suy thận (cratinin máu > 1,73μmol/ml) chiếm 20%, trong đó khoảng 10% người bệnh mới chẩn đoán suy thận nặng cần phải chạy thận nhân tạo. 70% bệnh nhân mới có kèm thiếu máu.
Tổn thương xương với nhiều biểu hiện huỷ hoại xương rõ rệt như đau xương, loãng xương, gãy xương, chèn ép (gây các bệnh lý thần kinh như chèn ép rễ - tuỷ sống, bệnh lý thần kinh ngoại biên, thâm nhiễm thần kinh trung ương) hoặc các triệu chứng tổn thương tuỷ như thiếu máu, nhiễm khuẩn tái diễn. Tăng quánh máu trên lâm sàng thấy khó thở, xuất huyết võng mạc, chảy máu mũi… 1. Cận lâm sàng Cận lâm sàng bệnh nhân đa u tuỷ xương có tương bào tăng cao trong tuỷ xương nhưng không có tương bào trong máu ngoại vi. Hình thái của tương bào có thể bình 8 thường hoặc to nhỏ không đều (11).
Tăng gamma globulin đơn dòng do các tương bào bệnh lý tiết ra làm tăng tốc độ lắng máu, tăng protid, tăng gamma globulin. Canxi trong máu tăng cao do hậu quả của tiêu xương và nước tiểu có protein Bence Jones. Kỹ thuật đếm tế bào dòng chảy và ứng dụng trong chẩn đoán, theo dõi sau điều trị bệnh nhân đa u tuỷ xương 1. Các kỹ thuật chẩn đoán đa u tuỷ xương Bệnh lý đa u tuỷ xương được chẩn đoán bằng nhiều xét nghiệm như huyết học, chẩn đoán hình ảnh, tuỷ đồ, sinh thiết tuỷ xương, đếm tế bào dòng chảy, sinh học phân tử….