ĐẶT VẤN ĐỀ Chất lƣợng cuộc sống ngày càng đƣợc nâng cao, nhu cầu ăn ngon. mặc đẹp ngày càng đƣợc quan tâm và chú trọng hơn. Do vậy, chế dộ dinh dƣỡng và độ an toàn càng đƣợc quan tâm hơn khi mà tình trạng ngộ độc thực phẩm còn xảy ra nhiều trong cuộc sống. Để hƣớng tới một cuộc sống chất lƣợng hơn thì con ngƣời đã hƣớng tới thực phẩm sạch nhiều hơn.
Và rau là một trong những mặt hàng đƣợc quan tâm khi mà con ngƣời ngày càng chú ý đến sức khỏe và chế độ dinh dƣỡng của mình hơn. Rau là một trong những nguồn thực phẩm chủ yếu, có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống hằng ngày của con ngƣời, với nhiều nguồn dinh dƣỡng nhƣ vitamin, chất khoáng, chất xơ và nhiều chất bổ dƣỡng khác mà đối với con ngƣời là những nguồn dinh dƣỡng lành mạnh và cần thiết. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn những ca ngộ độc từ thực phẩm có nguồn gốc từ rau. Do vậy, vấn đề rau sạch hay rau an toàn vẫn chƣa đƣợc đảm bảo và cần quan tâm hơn nữa.
Hiện nay trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau nói riêng, việc sử dụng phân bón mang lại hiệu quả to lớn trong việc nâng cao năng suất cây trồng. Tuy nhiên, việc làm dung các loại phân bón hóa học cũng nhƣ các điều kiện sản xuất không đảm bảo đã làm tăng sự tồn dƣ Nitrat (NO3-) trong đất cũng nhƣ trong các sản phẩm rau. Với lƣợng dƣ nitrat lớn sẽ gây hại cho sức khẻo con ngƣời khi đi vào cơ thể ngƣời với cơ chế: NO3- bị khử thành NO2-; NO2- làm chuyển hóa oxyhaemoglobin, làm cho máu thiếu oxy. Nếu trong cơ thể lƣợng NO3- nhiều sẽ hạn chế sự hô hấp của tế bào, ảnh hƣởng đến hoạt động của tuyến giáp, gây đột biến và phát triển của các khối u gây nên ung thƣ đặc biệt là ung thƣ dạ dày.
Với nhu cầu ngày càng cao của con ngƣời, khi mà vấn đề kinhh tế luôn đặt lên hàng đầu thì chất lƣợng sản phẩm ngày càng đáng lo ngại. Vấn đề rau sạch hay rau an toàn cũng đƣợc quan tâm đặc biệt là những vùng sản xuất rau chuyên canh. 1 Phúc Thọ là một trong những địa điểm mà hiện nay Hà Nội đang có những ƣu tiên cho phát triển chuyên canh sản xuất rau, trở thành một trong những nơi xuất khẩu và cung cấp rau chính cho trong và ngoài thành phố. Với quy mô diện tích trồng rau khá lớn chuyên canh trồng rau, do đó vấn đề an toàn thực phẩm càng phải đƣợc quan tâm.
Do đó, đánh giá lƣợng tồn dƣ Nitrat có trong đất sản xuất dẫn đến sự tồn dƣ của chúng trong sản một số loại rau là một trong những hƣớng nghiên cứu cần thiết và cấp bách. Chính vì vậy tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đánh giá tồn dư Nitrat (NO3-) trong đất và trong một số loại rau điển hình được trồng ở huyện Phúc Thọ, Tp Hà Nội” nhằm đánh giá thực trạng tồn dƣ nitrat, nitrit trong đất và trong một số loại rau chủ yếu sản xuất tại địa phƣơng. Từ đó đề xuất giải pháp nhằm hạn chế tồn dƣ nitrat, nitrit trong quá trình sản xuất rau và trên các sản phẩm rau tại địa phƣơng. 2 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan chung về rau xanh 1.1 Vai trò của rau xanh Rau rất đa dạng và phong phú.
Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của mỗi ngƣời trên khắp hành tinh, đặc biệt khi lƣơng thực và các loại thức ăn giàu đạm đã đƣợc đảm bảo thì nhu cầu về rau xanh lại càng gia tăng, nhƣ một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dƣỡng và kéo dài tuổi thọ. Vai trò của cây rau đã đƣợc khẳng định qua câu tục ngữ “cơm không rau như đau không thuốc”. Giá trị của rau đƣợc thể hiện nhiều mặt trong cuộc sống. Các loại rau tƣơi của nƣớc ta rất phong phú.
Nhìn chung ta có thẻ chia rau tƣơi thành nhiều nhóm: nhóm rau xanh nhƣ rau cải, rau muống, rau xà lách, rau cần.; nhóm rễ củ nhƣ cà rốt, củ cải, su hào, củ đậu.; nhóm cho quả nhƣ cà chua, cà bát, cà pháo, dƣa chuột.; nhóm hành gồm các loại hành, tỏi,. Trong ăn uống hàng ngày, rau tƣơi có vai trò đặc biệt quan trọng. Tuy lƣợng protid và lipid trong rau tƣơi không đáng kể, nhƣng chúng cung cấp cho cơ thể nhiều chất hoạt tính sinh học, đặc biệt là các muối khoáng có tính kiềm, các vitamin, các chất pectin và axit hữu cơ. Ngoài ra trong rau tƣơi còn có cac sloiaj đƣờng tan trong nƣớc và chất xenluloza.
Một đặc tính sinh lý quan trọng của rau tƣơi là chúng có khả năng gây thèm ăn và ảnh hƣởng tới chức phận tiết của tuyến tiêu hoá. Tác dụng này đặc biệt rõ rệt ở các loại rau có tính tinh dầu nhƣ rau mùi, rau thơm, hành, tỏi.Ăn rau tƣơi phối hợp với những thức ăn nhiều protid, lipid, glucid làm tăng rõ rệt sự tiết dịch của dạ dày. Thí dụ: trong chế độ ăn có cả rau và protid thì lƣợng dịch vị tiết ra tăng gấp hai lần so với chế độ ăn chỉ có protid. Cũng vì vậy, bữa ăn có rau tƣơi tạo điều kiện thuận lợi cho tiêu hóa và hấp thu các thành phần dinh dƣỡng khác.
Ngoài ra men trong rau tƣơi có ảnh hƣởng tốt tới quá trình tiêu hoá, nhƣ các men trong củ hành có tác dụng tƣơng tự men pepsin của dịch vị, các men của cải bắp và xà lách cũng có tác dụng tƣơng tự trypsin của tuyến tuỵ.2 Giá trị dinh dưỡng của rau xanh Rau là nguồn cung cấp vitamin, khoáng chất và chất xơ giúp đào thải chất độc cholesterol ra khỏi cơ thể và chống táo bón. Một số rau gia vị còn có tác dụng chữa bệnh nhờ có các tinh dầu và kháng sinh thực vật Các chất xơ trong rau có cấu trúc mịn màng, hàm lƣợng cao hơn trong hoa quả giúp cho cơ thể hấp thụ các chất dinh dƣỡng có ở trong 3 nhóm thức ăn cơ bản (nhóm đạm, đƣờng, béo). Nếu chỉ ăn đơn thuần các protein động vật, thì hiệu suất hấp thụ protein trên đƣờng tiêu hoá chỉ là 70%, còn nếu ăn thêm rau thì hiệu suất hấp thụ protein sẽ đạt 90%. Tác dụng của rau là cung cấp vitamin, khoáng chất và chất xơ giúp đào thải chất độc cholesterol ra khỏi cơ thể và chống táo bón.
Một số rau gia vị còn có tác dụng chữa bệnh nhờ có các tinh dầu và kháng sinh thực vật. Ví dụ nhƣ: hành ta, hành tây, tỏi, củ cải, cà rốt, cà chua, bí ngô, ớt,… Nhƣ vậy có thể thấy, rau có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sức khoẻ và tuối thọ vì hàm lƣợng chất xơ nhiều hơn trong hoa quả, chính vì vậy không thể dùng trái cây để thay thế rau xanh trong mỗi bữa ăn hàng ngày của gia đình. Nên sử dụng đủ rau và quả chín quanh năm với lƣợng trung bình là 400 g/ngƣời/ngày. Về thành phần và giá trị dinh dƣỡng của rau tƣơi có khác nhau tuỳ theo từng loại rau.
Lƣợng protid trong rau tƣơi nói chung thấp (dao động từ 0,5- 1,5%). Tuy vậy có nhiều loại rau ngƣời ta thấy một hàm lƣợng protid đáng kể nhƣ nhóm đậu tƣơi, đậu đũa (4-6 %), rau muống (2,7%), rau sắng (3,9%), rau ngót (4,1 %), cần tây (3,1%), su hào, rau giền, rau đay (1,8-2,2%). Về glucid, trong rau tƣơi có các loại đƣờng đơn dễ hấp thu, tinh bột, xenluloza và các chất pectin. Hàm lƣợng trung bình của glucid trong rau tƣơi khoảng 3-4 %, có những loại có tới 6-8%.
Chất xenluloza của rau có vai trò sinh lý lớn vì cấu trúc của nó mịn màng hơn xenluloza của ngũ cốc. Trong rau, xenluloza ở dƣới dạng liên kết với các chất pectin tạo thành phức hợp pectin-xenluloza có tác dụng kích thích mạnh chức năng nhu động ruột và tiết dịch của ruột giúp tiêu hoá dễ dàng. 4 Rau tƣơi là nguồn vitamin và muối khoáng quan trọng. Nhu cầu về vitamin và muối khoáng của con ngƣời đƣợc cung cấp qua bữa ăn hàng ngày qua rau tƣơi.
Hầu hết các loại rau tƣơi thƣờng dùng của nhân dân ta đều giàu vitamin nhất là vitamin A và C là những vitamin hầu nhƣ không có hoặc có chỉ có rất ít trong thức ăn động vật. Các chất khoáng trong rau tƣơi cũng rất quan trọng. Trong rau có nhiều chất khoáng có tính kiềm nhƣ kali, canxi, magiê. Chúng giữ vai trò quan trọng trong cơ thể và cần thiết để duy trì kiềm toan.
Trong cơ thể những chất này cho những gốc tự do cần thiết để trung hoà các sản phẩm axít do thức ăn hoặc do quá trình chuyển hoá tạo thành. Đặc biệt rau có nhiều kali ở dƣới dạng kali cacbonat, muối kali của các axít hữu cơ và nhiều chất khác dễ tan trong nƣớc và dịch tiêu hoá. Các muối kali làm giảm khả năng tích chứa nƣớc của protid ở tổ chức, do đó có tác dụng lợi tiểu. Lƣợng magiê trong rau tƣơi cũng rất đáng chú ý, dao động từ 5-75mg%.
Đặc biệt là các loại rau thơm, rau giền, rau đậu có nhiều magie. Rau còn là nguồn chất sắt quan trọng. Sắt trong rau đƣợc cơ thể hấp thu tốt hơn sắt ở các hợp chất vô cơ. Các loại rau đậu, sà lách là nguồn mangan tốt.
Tóm lại rau tƣơi có vai trò quan trọng trong dinh dƣỡng; bữa ăn hàng ngày của chúng ta không thể thiếu rau. Điều quan trọng là phải đảm bảo rau sạch, không có vi khuẩn gây bệnh và các hoá chất độc nguy hiểm.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới và Việt Nam 1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới Trên thế giới, rau còn là loại cây đƣợc trồng từ lâu đời. Ngay từ thời kỳ Hy Lạp và Ai Cập cổ đại, con ngƣời đã biết trồng rau và sử dụng rau bắp cải nhƣ một thực phẩm. Theo thống kê của FAO (2008) năm 1980, toàn thế giới sản xuất đƣợc 375 triệu tấn rau; năm 1990 là 441 triệu tấn; năm 1997 là 596,6 triệu tấn và năm 2001 đã lên tới 678 triệu tấn.
Chỉ riêng bắp cải và cà chua sản lƣợng tƣơng ứng là 50,7 triệu tấn và 88,22 triệu tấn với năng suất tƣơng ứng 24,4 tấn/ha. Lƣợng tiêu thụ rau bình quân theo đầu ngƣời là 110 kg/ngƣời/năm.[8] 5 Năm 2005, diện tích trồng rau trên toàn thế giới là 18. Năng suất trung bình đạt 138.576 tạ/ha, sản lƣợng đạt 249.[8] Theo FAO nhu cầu tiêu thụ rau quả trên thị trƣờng thế giới tăng khoảng 3,6%/ năm trong khi khả năng tăng trƣởng sản xuất chỉ 2,6%/ năm có nghĩa là cung chƣa đủ cầu.