chương 1, tác giả sẽ trình bày về những khác biệt trong điều kiện hoạt động của SAWACO so với các doanh nghiệp khác, bao gồm cả khác biệt so với các công ty cấp nước khác. Sự khác biệt này bao gồm khác biệt về môi trường chính trị và pháp lý, khác biệt về điều kiện tự nhiên xã hội, và khác biệt về cơ cấu bộ máy quản lý ngành nước. Mục đích là nhằm khẳng định các lý thuyết đã có không thể áp dụng vào tình hình triển khai ICT hiện nay tại SAWACO để đo lường tính sẵn sàng của SAWACO đối với việc triển ICT. Môi trường chính trị và pháp lý của ngành nước Có một suy nghĩ mạnh mẽ rằng các doanh nghiệp nhà nước, như SAWACO, trong khi là một phần quan trọng của mô hình kinh tế, đã trở thành một nguồn phát triển không hiệu quả, và là một hạn chế đối với việc phát triển doanh nghiệp tư nhân và phúc lợi xã hội nhằm duy trì các mức cao của việc tăng trưởng kinh tế và đáp ứng kỳ vọng của người dân.
Tất cả các đơn vị này được phép hoạt động ngoài hoạt động chính của mình, trực tiếp hoặc thông qua các công ty con, trong đó có xây dựng, tư vấn, bán thiết bị, v. Sự đa dạng các hoạt động có thể vượt ngoài hoạt động chính của các công ty, chẳng hạn đối với một công ty phân phối nước thì có thể thi công các công trình công cộng và đất đai hay phát triển bất động sản. Dường như cách làm này là khá phổ biến và nó có thể được biện minh với lý do nó tạo thêm nguồn thu nhập để cân bằng các tài khoản tài chính của công ty mẹ. Hơn nữa, các đặc quyền được ban cho các doanh nghiệp nhà nước và các công ty con của doanh nghiệp nhà nước đang kìm hãm sự cạnh tranh, năng suất và hiệu quả.
Các công ty mẹ có thể vay vốn từ các ngân hàng quốc gia về lĩnh vực công, như Ngân hàng Phát triển Việt Nam, và từ các ngân hàng thương mại nhà nước. Chính quyền trung ương cũng lập các dòng tín dụng sẵn có để cấp vốn cho các khoản đầu tư về các dịch vụ đô thị, và có thể thực hiện chuyển khoản trực tiếp để trợ vốn cho một số hoạt động cụ thể. Ngoài ra, có nhiều vấn đề chưa được giải quyết liên quan đến quản trị doanh nghiệp yếu, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 tính minh bạch hạn chế, công bố tiêu chuẩn nghèo, và việc giám sát và kiểm tra không hiệu quả. Những vấn đề này cần được giải quyết cấp bách nhằm hiện đại hóa đất nước và đưa đất nước tiến nhanh với tốc độ của các thập niên trước đây.
Từ khi Luật Doanh nghiệp năm 2005 (60/2005/QH11) được phê duyệt, Việt Nam hiện đang dần chuyển các công ty công thành các công ty độc lập, với ý định chuyển đổi các công ty ngành công cộng thành các công ty có tư cách pháp nhân riêng, trước khi chuyển vốn cho các cổ đông là nhà nước hoặc tư nhân. Cũng đã có ý định tách rời, ít nhất là một cách chính thức, sự quản lý các công ty ra khỏi các cấp quản lý bên trên nhằm tránh xảy ra các mâu thuẫn về lợi ích. Với trường hợp các công ty nước, thì sẽ tách rời chức năng thể chế và chức năng quản lý. Dường như nguyên tắc quản lý lành mạnh này hiện không thực hiện được như mong muốn trong các dịch vụ như cấp nước, điện, quản lý chất thải rắn, và giao thông công cộng.
Điểm mấu chốt của vấn đề liên quan đến việc phê duyệt giá cước dịch vụ là được thiết lập ở mức rất thấp, không đủ để trang trải chi phí hoạt động và đầu tư. Chiến lược thực hiện luật doanh nghiệp là chuyển thành từng giai đoạn. Đầu tiên, các công ty công cộng chuyển đổi sang thành các công ty mẹ có các công ty con hoạt động. Tiếp đó, vốn của các công ty con có lợi nhuận cao nhất sẽ được mở rộng ra cho các cổ đông bên ngoài, có thể là các công ty nhà nước hoặc tư nhân của Việt Nam, với một phần là dành cho các nhân viên.
Đây là phương pháp ưa thích đối với các công ty dịch vụ công ở địa phương như SAWACO. Mục đích của các công ty là được ở một vị trí để mở rộng vốn, trong khi thu hút được các cơ hội kinh tế hấp dẫn. Tuy nhiên, bước sau chỉ có thể thành công bằng cách tăng đáng kể mức phí phải trả của người sử dụng, và bằng cách tái tập trung phạm vi hoạt động đối với doanh nghiệp cốt lõi về cấp nước, kinh doanh các hoạt động có lời nhưng không phải cốt lõi, và chấm dứt các hoạt động là gánh nặng tài chính. Nhìn chung, chính phủ hỗ trợ khá nhiều sự tham gia của khu vực tư nhân trong lĩnh vực cấp nước như trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng khác.
Tuy nhiên, khung pháp lý và quy định còn rối ren và chưa đầy đủ, và các công ty nước ngoài nhận thấy hết sức khó khăn thực hiện tiến triển trong lĩnh vực cấp nước và thoát nước đô thị. Hầu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 hết nhà đầu tư nước ngoài lại tập trung vào các dự án cho khách hàng tư nhân trong ngành công nghiệp, phát triển bất động sản và du lịch. Trong lĩnh vực cấp nước, có vẻ như các doanh nghiệp nhà nước tiếp tục chiếm lĩnh và được ưu tiên tiếp cận tài chính và có một cấp độ tương đối cao về quyền tự chủ hoạt động. Vì vậy, các doanh nghiệp nhà nước có lợi thế hơn khi cạnh tranh kinh doanh với các công ty tư nhân.
Các vấn đề chính cần quan tâm bao gồm những lợi thế tiềm ẩn của các doanh nghiệp nhà nước đối với công tác đấu thầu cơ sở hạ tầng nước, vì họ tiếp cận những nhân vật ra quyết định tốt hơn, do đó cho phép họ có được các thông tin về các cơ hội kinh doanh trong tương lai sớm hơn, nhằm vượt qua được các rào cản quan liêu dễ dàng hơn , và gây ảnh hưởng đến quá trình quản lý một cách hiệu quả hơn. Một quan tâm khác liên quan đến thực tế là, tiền đồng Việt Nam vẫn chưa được chuyển đổi và quá trình nguồn vốn bên ngoài còn lâu và không chắc chắn. Ngoài ra, điều khoản trọng tài quốc tế thường không được chấp nhận trong hợp đồng với các cơ quan nhà nước. Và cuối cùng, khung pháp lý hiện tại không cho phép các công ty nước ngoài sử dụng tài sản dự án làm bảo đảm các khoản vay.
Một báo cáo gần đây về ngành cấp nước và thoát nước tại Việt Nam cung cấp một tóm tắt về cách thức các quyết định về đầu tư được thực hiện ra sao (GWI, 2013). Nói chung, các bên tư nhân phải chủ động trong việc xác định các cơ hội và thực hiện các nghiên cứu sơ bộ để xác định phạm vi dự án. Thường thì, các công ty tư nhân biết các cơ hội tiềm năng thông qua các mối quan hệ được duy trì tốt với các nhân vật ra quyết định của chính phủ. Đối với các dự án ở hầu hết các thành phố trên khắp Việt Nam, những người ra quyết định quan trọng được bố trí tại chính quyền trung ương ở Hà Nội chứ không phải ở các cấp chính quyền địa phương.
Thành phố Hồ Chí Minh là một ngoại lệ, vì tình trạng tự chủ đặc biệt cho phép thành phố trao trực tiếp các hợp đồng. Khi cơ hội đầu tư đã được xác định, công ty tư nhân phải trải qua một quá trình lâu dài xây dựng lòng tin với người đưa ra quyết định để có cơ hội ký kết hợp đồng. Đồng thời, các công ty tư nhân cần phải chấp nhận rủi ro để thực hiện các nghiên cứu khả thi. Nếu một bên tư nhân đề xuất một dự án với chính phủ, thì ngoài việc chứng minh sẽ đem lại lợi ích cho kinh tế địa phương và quốc gia như đóng góp thuế thu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 nhập hoặc tạo ra công ăn việc làm, thông thường còn phải chứng minh rằng không có chi phí hoặc chỉ có chi phí tối thiểu đối với chính quyền địa phương.
Trong các dự án có bên đề xuất là tư nhân, thì chính phủ có thể khuyến khích công ty này hợp tác với một công ty địa phương hoặc một doanh nghiệp thuộc nhà nước sở hữu, hoặc có thể cung cấp một danh sách các đối tác tiềm năng. Công ty tư nhân sẽ cần phải hợp tác với một trong các đối tác này để có được phê duyệt dự án. Báo cáo này, ở một khía cạnh nào đó, cho thấy hầu hết các cơ quan chính phủ ở Việt Nam không có khả năng và nguồn lực để tham gia vào việc hoạch định kinh doanh và đầu tư để xác định các dự án. Điều kiện tự nhiên và xã hội của ngành nước Đôi khi mối quan hệ giữa tài nguyên nước và các dịch vụ cấp nước chưa được hiểu rõ.
Vì lý do này, Tổ chức Hợp tác Nước Toàn cầu đã tập trung nhiều sự chú ý chiến lược của mình đối với sự phát triển các công cụ quản lý (Global Water Partnership, 2005) xung quanh khái niệm quản lý nước dựa trên lý luận về chu trình thủy văn. Việt Nam được xem là một quốc gia dồi dào nước theo tiêu chuẩn quốc tế vì nó có trên 10.000 m3 nước mỗi năm tính trên đầu người của các nguồn tài nguyên tái tạo. Tuy nhiên, việc phân phối tài nguyên nước thay đổi khá lớn trong năm vì phân bố lượng mưa không đều. Khoảng 70% lượng mưa hàng năm được tạo ra trong vòng chưa đầy bốn tháng, trong khi vào mùa khô thì dòng lưu lượng mưa chỉ ở mức từ 15- 30% của tổng lượng mưa hàng năm.
Những thay đổi cực độ này kết hợp với lượng nước dự trữ và cơ sở hạ tầng kiểm soát lũ còn bị hạn chế dẫn đến việc lũ lụt tàn phá trong mùa mưa và lượng mưa cực thấp trong mùa khô. Sự dư thừa nước ở Thành phố Hồ Chí Minh thậm chí còn lớn hơn, do thành phố nằm ở những đoạn sông thấp hơn của các sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, với lượng nước hàng năm gần 20.000 m3 trên mỗi cư dân. Tuy nhiên, tính khả dụng về nước chưa tính đến sự biến thiên hàng năm khi có những sự kiện lớn, hoặc năng lực của cơ sở hạ tầng trong việc cấp nước đến người dân một cách bền vững và ở mức giá chấp nhận được. Trên thực tế, Thành phố Hồ Chí Minh đang đối mặt với một tình hình TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.