Mở đầu Chƣơng I: Cơ sở lý luận và tổng quan về sản xuất lúa gạo trong và ngoài nƣớc Chƣơng II: Đối tƣợng, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng III: Đánh giá tính bền vững của sản xuất lúa theo tiêu chí SRP tại các xã Viên An và Viên Nội, Ứng Hòa, Hà Nội. Chƣơng IV: Các giải pháp phát triển lúa gạo bền vững tại huyện Ứng Hòa. Kết luận Tài liệu tham khảo 2 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT LÖA GẠO 1. Cơ sở lý luận và tổng quan về tính bền vững của sản xuất lúa gạo 1.
Các khái niệm Khái niệm về tính bền vững: Bền vững là một sự duy trì đƣợc ( không phải mức độ duy trì) tiềm năng sản xuất của một hệ thống tự nhiên nào đó (một cách lâu dài, ít nhất là vài nhập niên) với một thực tế quản lý cụ thể (cƣờng độ và loại hình hoạt động xã hội và kỹ thuật: năng lƣợng đƣa vào, chất nuôi dƣỡng, khác biệt gen, các thủ tục thu hoạch và những thay đổi tuần hoàn theo thời gian) [8]. Tính bền vững đƣợc định nghĩa là đặc trƣng cho một quá trình hoặc một trạng thái tồn tại có thể đƣợc duy trì lâu dài. Khái niệm đó không chỉ đƣợc các nhà khoa học sử dụng để lý giải tính liên tục và ổn định của các thuộc tính sinh thái mà còn bao gồm cả các thuộc tính kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, đạo lý, thể chế, v. Một trong những thuộc tính đặc biệt quan trọng của tính bền vững là các điều kiện bền vững hệ thống [Bertalanffy, von Ludwig 1950, 1951, 1968, 1975, 1981].
Nhà nghiên cứu ung thƣ Karl-Henrik Robèrt đã có đóng góp lớn trong việc phát hiện ra phƣơng pháp đánh giá tính bền vững một cách khoa học dựa trên nguyên lý nhiệt động học. Chính định nghĩa phát triển bền vững của Uỷ ban Brundtland đã dựa trên kết quả nghiên cứu của ông. Theo ông “tính bền vững là đặc trƣng cho một quá trình hoặc một trạng thái đƣợc duy trì một cách ổn định lâu dài”. Các giá trị cốt lõi của tính bền vững: -Công bằng về KT: Sinh kế cần thiết, cơ hội cho mỗi ngƣời tạo ra nền tảng cơ sở vật chất đầy đủ để có cuộc sống nhân bản, sinh sôi và sáng tạo.
-Văn hóa, xã hội: Sự đa dạng về văn hóa, kiến thức truyền thống/bản địa, sáng tạo, tƣ duy toàn cầu, hành động địa phƣơng, .; Văn hóa hòa bình thúc đẩy PT kinh tế bền vững, xã hội và dân chủ; - Phát triển con ngƣời: An ninh, nhân quyền và nhu cầu cơ bản, công bằng xã hội, hệ thống hỗ trợ môi trƣờng sống, sức khỏe con ngƣời, điểm mạnh của ngƣời Việt. - Bảo vệ môi trƣờng sinh thái: Sự đa dạng của tự nhiên, sinh học, tài nguyên thiên nhiên; khả năng chống chịu và điều kiện hỗ trợ các hệ thống xã hội và con ngƣời. 3 z Khái niệm về phát triển bền vững Định nghĩa“Phát triển bền vững” đƣợc xuất hiện vào những năm 1970 của thế kỉ XX nhƣng mãi cho đến đầu thập niên 80 “Phát triển bền vững” chính thức đƣợc sử dụng trong ấn phẩm Chiến lƣợc bảo tồn Thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên Thế giới (IUCN), Chƣơng trình Môi trƣờng Liên hiệp quốc (UNEP) và Quỹ bảo vệ động vật hoang dã quốc tế (WWF) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”. Tuy nhiên khái niệm này chính thức phổ biến rộng rãi trên thế giới từ sau báo cáo Brundrland (Elliott, 1994:6) của Ủy ban Môi trƣờng và Phát triển Thế giới (WCED).
Kể từ sau báo cáo Brundtland, khái niệm PTBV trở thành một khái niệmđƣợc nhắc tới nhiều, đƣợc ví nhƣ là một khái niệm chìa khoá giúp các quốc gia xây dựng quan điểm, định hƣớng, giải pháp tháo gỡ bế tắc trong các vấn đề trong phát triển. Trong giai đoạn này cũng đƣợc xem là giai đoạn mở đƣờng cho "Hội thảo về phát triển và môi trƣờng của Liên hiệp quốc và Diễn đàn toàn cầu hoá đƣợc tổ chức tại Ri-ô đơ Gia-nê-rô (1992), và Hội nghị thƣợng đỉnh thế giới về PTBV tại Johannesburg (2002). Theo Ủy ban Môi trƣờng và Phát triển Thế giới cũng đƣợc gọi là Ủy ban Brundtland đƣợc định nghĩa là: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại tới khả năng phát triển của các thế hệ tương lai”[15].Đó là sự phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên đƣợc tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con ngƣời, động vật và thực vật. Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các nhân tố xã hội, con ngƣời, nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nƣớc giàu và nghèo, và giữa các thế hệ; nó không chỉ là sự hòa giải mối quan hệ kinh tế và môi trƣờng mà còn bao hàm khía cạnh về chính trị xã hội, đặc biệt là bình đẳng xã hội.
Nhƣ vậy ba trụ cột phát triển bền vững là sự kết hợp hài hòa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trƣờng. Cho tới nay, khái niện về PTBV trên bình diện quốc tế có đƣợc sự thống nhất chung và mục tiêu để thực hiện PTBV trở thành mục tiêu của thiên niên kỷ. 4 z Ở Việt Nam, vấn đề PTBV cũng đã đƣợc chú ý đến nhiều trong giới nghiên cứu cũng nhƣ các nhà hoạch định đƣờng lối, chính sách. Trong mục 4, Điều 3, Luật bảo vệ môi trƣờng (năm 2014), PTBV đƣợc định nghĩa: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”.
Đây là định nghĩa có tính tổng quát, nêu bật những yêu cầu và mục tiêu trọng yếu nhất của PTBV, phù hợp với điều kiện và tình hình ở Việt Nam. Khi xã hội ngày càng phát triển đặc biệt là từ khi cách mạng công nghiệp ra đời nó đã thay đổi bộ mặt thế giới, đóng góp những nguồn lực phát triển mới là kỹ thuật và khoa học công nghệ, nó làm thay đổi sâu sắc mối quan hệ giữa con ngƣời, xã hội và tự nhiên. Cùng với tốc độ của công nghiệp hóa, nền kinh tế phát triển, quá trình đô thị hóa nhanh, dân số gia tăng, mọi nhu cầu đều gia tăng… tất cả các yếu tố đó làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác nhiều hơn, mức độ ảnh hƣởng cũng trầm trọng hơn. Và nếu nhƣ các quốc gia chỉ quan tâm đến tăng trƣởng mà không chú ý đến mức độ ảnh hƣởng đến môi trƣờng sinh thái thì đó chỉ là sự phát triển vội vã, không mang tính lâu dài, vì nếu trong tƣơng lai khi mà môi trƣờng đã bị phá hủy, nguồn tài nguyên đã cạn kiệt thì sẽ không còn nguồn lực để phát triển nữa.
Chính vì thế các nƣớc bây giờ đều đã quan tâm đến việc phải làm gì để phát triển có tính bền vững, tức là sự phát triển cân bằng giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trƣờng.1: Mô hình phát triển bền vững 5 z Nông nghiệp bền vững Theo định nghĩa của TAC/CGIARC (Ban cố vấn kỹ thuật thuộc nhóm chuyên gia quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp của Liên Hợp Quốc): Nông nghiệp bền vững phải bao hàm sự quản lý thành công tài nguyên thiên nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu của con ngƣời đồng thời cải tiến chất lƣợng môi trƣờng và gìn giữ đƣợc tài nguyên thiên nhiên. Năm 1991, nhóm hoạt động về vấn đề lƣơng thực thuộc Uỷ ban Hợp tác của các tổ chức phát triển Phi chính phủ (NGDOs) ở Cộng đồng châu Âu thống nhất đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: Nông nghiệp bền vững đƣợc thiết lập nhằm đáp ứng cả nhu cầu của ngƣời dân cũng nhƣ các mặt hạn chế về tự nhiên và điều kiện sinh thái ở một vùng xác định. Mục đích là đƣa năng suất cây trồng lên mức cao trên cơ sở bền vững và lâu dài mà không huỷ hoại môi trƣờng sống. Cần ƣu tiên xác định và phát triển các nguồn tài nguyên sẵn có ở địa phƣơng nhƣ nguồn lực lao động, nƣớc, dinh dƣỡng… hơn là dựa vào các nguồn đầu tƣ từ bên ngoài.
Điều này không bao gồm việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp từ các nguồn bên ngoài nhƣng cần giảm thiểu mức độ của nó để nó không làm tổn hại đến môi trƣờng tự nhiên cũng nhƣ sức khoẻ và điều kiện kinh tế của cộng đồng. Nông nghiệp chỉ thực sự bền vững khi khía cạnh xã hội và văn hoá của những ngƣời sử dụng và thụ hƣởng đƣợc tập trung một cách đầy đủ và các quyết định đều do họ thực hiện. Theo Tổ chức về môi trƣờng sinh thái thế giới (WOED) đã định nghĩa nông nghiệp bền vững nhƣ sau: Nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thoả mãn được các nhu cầu của thế hệ hiện nay mà không làm giảm khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau. Ở Việt Nam nghiên cứu về phát triển bền vững bắt đầu đƣợc nghiên cứu từ khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX.Thể hiện cụ thể nhất là quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17-8-2004 của Thủ tƣớng chính phủ ban hành Định hƣớng chiến lƣợc phát triển bền vững ở Việt Nam (Chƣơng trình nghị sự 21 của Việt Nam).
Trong 8 nội dung chính của chƣơng trình hành động thì nội dung thứ 4 đã đề cập đến các nội dung về phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam. 6 z Từ việc kế thừa những thành tựu nghiên cứu trƣớc đó và căn cứ vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam, có thể kết luận rằng: Phát triển nông nghiệp bền vững (bao gồm cả lâm nghiệp và ngƣ nghiệp) là quá trình sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, giải quyết tốt các vấn đề xã hội gắn với bảo vệ môi trƣờng sinh thái trên cơ sở đảm bảo thoả mãn các nhu cầu của con ngƣời trong trong hiện tại và tƣơng lai và đƣợc xã hội chấp nhận.2: Phát triển bền vững trong nông nghiệp 1. Tính bền vững trong sản xuất lúa gạo 1.