Chương 1 TONG QUAN 1. Khái niệm Đất (Soil) là phần trên cùng của vỏ phong hóa trái đất. Được hình thành từ 6 yếu tố: (1) sinh vật; (2) khí hậu; (3) đá me; (4) địa hình; (5) thời gian (tuổi tương đối); (6) yêu tố nhân tác (đối với đất đã sử dụng) Dat trong thuật ngữ chung là các vật chất nằm trên bề mặt Trái Dat, có kha năng hỗ trợ sự sinh trưởng của thực vật và phục vụ như là môi trường sinh sống của các dạng sự sống động vật từ các vi sinh vat tới các loài động vật nhỏ.Dokuchaev, nhà khoa học người Nga tiên phong trong lĩnh vực khoa học đất cho rang: Dat như là một thực thé tự nhiên có nguồn góc và lich sử phát triển khác nhau, là thực thể với những quá trình phức tạp và đa dạng diễn ra trong nó. Đất được coi là khác biệt với đá.
Đá trở thành đất dưới ảnh hưởng của một loạt các yếu tổ tạo thành đất như khí hậu, cây cỏ, khu vực, địa hình và tuổi. Theo ông, đất có thể được gọi là các tầng trên nhất của đá không phụ thuộc vào dạng; chúng bị thay đôi một cách tự nhiên bởi các tác động pho biến của nước, không khí và một loạt các dạng hình của các sinh vật sống hay chết. Theo Krasil'nikov, N.A (1958), đất có thé chia ra thành hai lớp tổng quát hay tầng: tầng đất bề mặt, là lớp trên cùng nhất, ở đó phần lớn các loại rễ cây, vi sinh vật và các loại hình sự sông động vật khác cư trú và tầng đất cái, tầng này nằm sâu hơn và thông thường dày đặc và chặt hơn cũng như ít các chất hữu cơ hơn. Đất được tạo thành do sự phong hóa đá mẹ, đây là một quá trình tự nhiên bao gồm các quá trình địa chất, thủy văn và sinh học kết hợp lại.
Các nguyên tố H, C, S, K, P và N rất cần cho cây trồng, các nguyên tố này chứa trong đất nhiều hơn trong đá. Cacbon trong đất nhiều hơn trong đá đến 20 lần, nitơ gấp 10 lần,. Chính vì vậy mà đất trồng nuôi sống được thực vật. Một trong những sản phẩm cuối cùng của quá trình phong hóa đá mẹ là các hạt keo vô cơ.
Các hạt keo này đóng vai trò rất quan trọng trong đất. Hạt keo giữ nước và các chất dinh dưỡng cho thực vật hấp phụ. Ngoài ra, các hạt keo đất có bản chất vô cơ còn hấp phụ các chất độc trong đất, vì vậy chúng có vai trò như những tác nhân làm giảm độc tính của các chất gây độc cho thực vật. Bản chất và mật độ của các hạt keo vô cơ là yếu tố rất quan trọng dé xác định năng suất sinh học của đất.
Đặc điểm đất Việt Nam Việt Nam có diện tích tự nhiên 33 triệu ha, trong đó có 31 triệu ha đất và 2 triệu ha sông suối, núi đá và đảo. Đất đai Việt Nam được hình thành từ nhiều loại đá mẹ và mẫu chất như đá trầm tích, đá macma, đá biến chất, phù sa cô. nên các loại hình thổ nhưỡng cũng rất đa dạng. Tính chất của đất bị ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố đá mẹ, mau chất và địa hình.
Chang hạn cùng là đá mẹ macma nhưng phân hóa thành macma axit hình thành nên đất có thành phan cơ giới nhẹ, macma trung tính hoặc bazơ hình thành nên đất có thành phần cơ giới nặng. Trên bản đồ thổ nhưỡng Việt Nam tỉ lệ 1:1.000 thể hiện 22 nhóm dat chính và 66 đơn vị đất. Các nhóm đất phù sa, đất xám, đất đỏ chiếm phần lớn diện tích của đất của cả nước (trên 90%) và giữ một vai trò quan trọng trong việc định hướng phát triển nền nông nghiệp nước ta. Ngoài những tính chất đặc trưng theo đá mẹ hoặc mẫu chất, đất Việt Nam còn có một số tính chất chung như sau: - Hau hết diện tích đất là đất chua hoặc rất chua.
- Ty lệ hữu cơ trong đất thấp, mức độ phân hóa mạnh. - Dung tích hap thu thấp, mức độ bão hòa bazơ thấp, quá trình tích lũy sắt, nhôm ở đạng di động xảy ra mạnh, lân bị giữ chặt nhất là ở nhóm đất phèn và đất đỏ. - Ham lượng dinh dưỡng nói chung là thấp va rất thấp. Kết quả nghiên cứu 122 mẫu trên nhiều loại đất ở nhiều vùng của Việt Nam được thực hiện bởi chương trình FADINAP/FINNIDA Việt Nam cho thấy đất đai của nước ta trên một nửa diện tích có chất lượng xấu cần được cải tạo.
Trong đó tỉ lệ theo số mẫu có: 87% thiếu lân, 80% thiếu kali, 72% thiếu canxi, 48% thiếu magie, 37% thiếu lưu huỳnh, 78% thiếu Bo, 17% thiếu đồng, 11% thiếu kẽm, 48% thiếu Molypden, 11% thiếu mangan và 4% thiếu sắt. Công tác điều tra xây dựng bản đồ đất tỉnh Bình Thuận Công tác điều tra xây dựng bản đồ đất tỉnh Bình Thuận chia thành các thời kỳ sau: Trước năm 1975, do tinh trạng chiến tranh công tac lập ban đồ đất các tinh vùng PNB chưa được triển khai đầy đủ, tài nguyên đất các tỉnh chỉ được mô ta trong các sơ đô đất (ti lệ 1/200.000) do Nha khảo cứu nông nghiệp Sài Gòn biên hội dựa trên sơ đồ đất Miền Nam Việt Nam (t lệ 1/250. Moormamn và Thái Công Tụng viết thuyết minh. Giai đoạn 1975-1978: Bộ Nông nghiệp (chủ yếu là Viện Quy hoạch và TKNN) tiến hành điều tra xây dựng bản đồ đất các huyện trong tinh tỷ lệ 1/50.000; sau đó tông hợp lên bản đồ toàn tinh tỷ lệ 1/100.
Trong công trình này phân loại đất theo quan điểm phát sinh, tương đối phù hợp với phân loại đất Việt Nam, 1984. Giai đoạn 1979-1985: Một số khu vực được điều tra xây dựng bản đồ đất ở tỷ lệ 1/25.000, bao gồm các nông trường, vùng chuyên canh bông, lúa, thuốc lá trên địa ban tinh, nhưng diện tích không nhiều. Phân loại đất trong các công trình này phân loại theo quan điểm phát sinh, tương đối phù hợp với phân loại đất Việt Nam, 1984. Năm 1995, 03 vùng thuộc dự án thủy lợi sau đây được xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 1/25.
Phân loại đất trong các công trình này phân loại theo quan điểm phát sinh, tương đối phù hop với phân loại đất Việt Nam, 1984. + Vùng dự án thủy lợi Cà Dây, thuộc Tuy Phong và Bắc Bình, diện tích 27. + Vùng dự án thủy lợi Tà Pao, thuộc huyện Đức Linh, Tánh Linh và Hàm Tân, điện tích 221. + Vùng dự án thủy lợi Sông Lũy, thuộc huyện Hàm Thuận Bắc và Bắc Bình, diện tích 153.
Năm 1996, trên cơ sở các tài liệu đất ké trên bản đồ đất tinh Bình Thuận tỷ lệ 1/100.000 được xây dựng lần đầu tiên ké từ sau ngày tách ra từ tinh Thuận Hải cũ trong khuôn khổ của dự án: “Đánh giá tiềm năng phục vụ chiến lược phát triển kinh tế — xã hội tỉnh Bình Thuận” của Phân viện QH&TKNN, 1996. Trong tài liệu này phân loại đất tỉnh Bình Thuận được áp dụng cơ bản theo phân loại đất Việt Nam, 1984. Năm 1999, trong khuôn khổ của dự án “Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bình Thuận đến năm 2010” bản đồ đất tinh Bình Thuận lại được cập nhật và xây dựng ban đồ đất mới ở tỷ lệ 1/100. Phân loại đất cho bản đồ này lại được chuyền từ phân loại của bản đồ đất tỉnh Bình Thuận, năm 1996 sang phân loại của FAO/UNESCO.
Thực chat chi là chuyển ngang theo suy đoán chứ không có điều tra phân tích theo phân loại của FAO/UNESCO. Nhìn chung, các tài liệu về đất và liên quan đến sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Bình Thuận khá phong phú, song các nghiên cứu nêu trên còn mang tính tổng quát theo vùng, hoặc chỉ đề cập tới một số vấn đề nhỏ trong vấn đề khai thác và sử dụng đất. Dé từng bước hoàn chỉnh, đánh giá đúng tiềm năng đất đai, làm tài liệu cơ sở cho dé xuất, bố trí sử dung dat hợp lý, việc điều tra bổ sung, hoàn thiện bản đồ đất và đánh giá thích nghi đất đai là công việc rất cần thiết, đặc biệt đối với vùng đất sản xuất nông nghiệp, trong đó cây Thanh Long là cây trồng chính của tỉnh Bình Thuận. Đất đai và đất nông nghiệp 1.
Dat đai - Theo Chu Văn Thinh, (2000) “Bat đai là một tổng thé vất chất cả sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của thực thể vật chất đó”. - “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phan quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa ban phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng” (Luật Đất đai, 2003). Theo quy định của pháp luật tại Khoản 2 Điều 4 Thông tư 14/2012/TT- BINMT về Quy định kỹ thuật điều tra thoái hóa đất do Bộ trưởng Bộ TN&MT ban hành đất đai được hiểu như sau: Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thé và có các thuộc tính tương đối ôn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thé dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội như: thô nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người. Dat nông nghiệp Theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam thì đất nông nghiệp thường được hiểu là đất trồng lúa hoặc các loại như: bắp, khoai, sắn, cà phê, cao su, hồ tiêu, cây ăn quả.
Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng đất nông nghiệp tương đối phong phú, không chỉ đơn thuần là để trồng lúa, hoa màu mà còn dùng vào các mục đích khác như chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm muối, trồng rừng. Trước đây, Luật đất đai (1993) quy định về đất nông nghiệp tại Điều 42 như sau: "Đất nông nghiệp là dat được xác định chủ yếu dé sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp". Đến Luật đất đai (2003) khái niệm đất nông nghiệp được mở rộng với tên gọi "Nhóm đất nông nghiệp" thay cho "Dat nông nghiệp" trước đây. Theo quy định của luật, có thể hiểu nhóm đất nông nghiệp là tổng thé các loại đất có đặc tính sử dụng giống nhau, với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản (NTTS), làm muối, trồng rừng.