Luận văn thạc sĩ vận dụng thước đo giá trị kinh tế tăng thêm trong đánh giá thành quả hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn

Luận văn thạc sĩ phân tích thước đo giá trị kinh tế tăng thêm trong đánh giá hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn.

Chuyên ngành

Kế Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2013

98
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

Danh mục các sơ đồ, biểu đồ, bảng biểu

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯỚC ĐO GIÁ TRỊ KINH TẾ TĂNG THÊM (ECONOMIC VALUE ADDED - EVA)

1.1. Thước đo Giá trị kinh tế tăng thêm trong đánh giá thành quả hoạt động

1.2. Quá trình hình thành và phát triển của thước đo EVA

1.3. Khái niệm, ý nghĩa thước đo EVA

1.4. Vận dụng thước đo EVA trong đánh giá thành quả hoạt động

1.5. Phương pháp xác định EVA

1.6. Các bước xác định EVA

1.7. Vận dụng thước đo EVA trong đánh giá thành quả hoạt động ngân hàng

1.8. Thước đo EVA trong lĩnh vực ngân hàng

1.9. Xác định EVA trong ngân hàng

1.10. Tính EVA theo phương pháp vốn chủ sở hữu

1.11. Điều chỉnh số liệu trong tính EVA ngân hàng

1.12. Ưu điểm, nhược điểm của thước đo EVA

1.12.1. Nhược điểm

1.13. Kết hợp EVA với hệ thống chi phí theo hoạt động (ABC- Activities Based Costing) trong đánh giá thành quả hoạt động

1.14. Tổng quan về hệ thống tính chi phí theo hoạt động ABC (ABC- Activities Based Costing)

1.15. Sự cần thiết kết hợp EVA với ABC trong đánh giá thành quả hoạt động

1.16. Phương pháp thực hiện

1.17. Thước đo EVA với hệ thống chi phí theo hoạt động trong đánh giá thành quả hoạt động của ngân hàng

1.18. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN

2.1. Tổng quan về Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB)

2.2. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển

2.3. Lĩnh vực hoạt động, sản phẩm và dịch vụ chủ yếu

2.4. Tình hình hoạt động kinh doanh của SCB giai đoạn 2010-2012

2.5. Tình hình hoạt động SCB giai đoạn trước hợp nhất

2.6. Tình hình hoạt động SCB giai đoạn hợp nhất

2.7. Kết quả hoạt động kinh doanh SCB trong năm 2012

2.8. Định hướng phát triển của SCB giai đoạn 2013-2015

2.9. Thực trạng đánh giá thành quả hoạt động tại SCB

2.10. Đánh giá thành quả hoạt động tại SCB

2.11. Hiệu quả hoạt động

2.12. Khả năng sinh lời

2.13. Tình hình thanh khoản

2.14. Hạn chế của thước đo tài chính trong đánh giá thành quả hoạt động tại SCB

2.15. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG THƯỚC ĐO GIÁ TRỊ KINH TẾ TĂNG THÊM ĐỂ ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN

3.1. Sự cần thiết vận dụng thước đo giá trị kinh tế tăng thêm tại SCB

3.2. Sử dụng thước đo EVA để đánh giá và nâng cao hiệu quả hoạt động

3.3. Đo lường hiệu quả trong công tác hiện đại hóa công nghệ thông tin

3.4. Liên kết EVA và ABC để cải thiện thành quả hoạt động

3.5. Tạo ra giá trị cho cổ đông và giá trị kinh tế tăng thêm cho SCB

3.6. Vận dụng thước đo EVA trong đánh giá thành quả hoạt động tại SCB

3.7. Xác định EVA trong đánh giá thành quả hoạt động

3.8. Tính lợi nhuận hoạt động sau thuế điều chỉnh

3.9. Tính vốn đầu tư điều chỉnh

3.10. Xác định lãi suất sử dụng vốn bình quân

3.11. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của SCB khi vận dụng thước đo EVA trong đánh giá thành quả

3.12. Liên kết EVA với ABC trong đánh giá thành quả hoạt động tại SCB

3.13. Xác định các hoạt động kinh doanh chính

3.14. Xác định chi phí gián tiếp cho từng hoạt động

3.15. Xác định chi phí sử dụng vốn cho từng hoạt động

3.16. Tính giá trị bằng tiền cho từng hoạt động

3.17. Tính giá trị bằng tiền cho các sản phẩm

3.18. Tính EVA cho từng sản phẩm

3.19. Kết luận chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về đánh giá thành quả ngân hàng bằng EVA

Đánh giá thành quả ngân hàng là một yếu tố quan trọng trong việc xác định hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính. Thước đo Giá trị Kinh tế Tăng thêm (EVA) đã trở thành một công cụ hữu ích trong việc đánh giá này. EVA không chỉ giúp các nhà quản lý hiểu rõ hơn về hiệu quả tài chính mà còn cung cấp thông tin cần thiết cho các nhà đầu tư. Việc áp dụng EVA trong ngân hàng giúp xác định liệu ngân hàng có tạo ra giá trị cho cổ đông hay không.

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của EVA trong ngân hàng

EVA là thước đo phần thu nhập tăng thêm từ chênh lệch giữa lợi nhuận hoạt động sau thuế và chi phí sử dụng vốn. Điều này có nghĩa là EVA giúp xác định giá trị thực sự mà ngân hàng tạo ra cho cổ đông. Việc hiểu rõ khái niệm này là rất quan trọng để áp dụng hiệu quả trong đánh giá thành quả hoạt động.

1.2. Lịch sử phát triển của thước đo EVA

EVA đã được phát triển từ những năm 1950 và được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp lớn. Sự phát triển của EVA đã giúp các tổ chức tài chính có cái nhìn sâu sắc hơn về hiệu quả hoạt động của mình, từ đó đưa ra các quyết định chiến lược phù hợp.

II. Vấn đề và thách thức trong đánh giá thành quả ngân hàng

Mặc dù EVA là một công cụ mạnh mẽ, nhưng việc áp dụng nó trong ngân hàng cũng gặp phải nhiều thách thức. Các thước đo tài chính truyền thống như ROE và ROI vẫn được sử dụng phổ biến, nhưng chúng không phản ánh đầy đủ chi phí sử dụng vốn. Điều này dẫn đến việc các ngân hàng có thể không nhận ra được giá trị thực sự mà họ tạo ra.

2.1. Hạn chế của các thước đo tài chính truyền thống

Các thước đo như ROE và ROI không tính đến chi phí sử dụng vốn, điều này có thể dẫn đến những quyết định sai lầm trong quản lý tài chính. Việc không xem xét chi phí cơ hội có thể khiến ngân hàng không nhận ra được giá trị thực sự mà họ tạo ra cho cổ đông.

2.2. Thách thức trong việc áp dụng EVA

Việc áp dụng EVA trong ngân hàng đòi hỏi một sự thay đổi trong cách thức quản lý và đánh giá hiệu quả. Các nhà quản lý cần phải hiểu rõ về cách tính toán EVA và cách nó ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và phân bổ nguồn lực.

III. Phương pháp xác định EVA trong ngân hàng

Để xác định EVA, ngân hàng cần thực hiện một số bước quan trọng. Đầu tiên, cần tính toán lợi nhuận hoạt động sau thuế, sau đó xác định chi phí sử dụng vốn. Việc này giúp ngân hàng có cái nhìn rõ ràng hơn về hiệu quả hoạt động của mình.

3.1. Các bước xác định EVA

Quá trình xác định EVA bao gồm việc tính toán lợi nhuận hoạt động sau thuế, xác định chi phí sử dụng vốn và sau đó tính toán EVA bằng cách trừ chi phí sử dụng vốn khỏi lợi nhuận hoạt động. Điều này giúp ngân hàng có cái nhìn tổng quan về hiệu quả tài chính.

3.2. Tính toán chi phí sử dụng vốn

Chi phí sử dụng vốn là yếu tố quan trọng trong việc xác định EVA. Ngân hàng cần xác định lãi suất sử dụng vốn và số vốn sử dụng để tính toán chi phí này. Việc này giúp ngân hàng hiểu rõ hơn về chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn.

IV. Ứng dụng thực tiễn của EVA trong ngân hàng

Việc áp dụng EVA trong ngân hàng không chỉ giúp đánh giá thành quả hoạt động mà còn tạo ra giá trị cho cổ đông. Các ngân hàng có thể sử dụng EVA để cải thiện hiệu quả hoạt động và đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý.

4.1. Cải thiện hiệu quả hoạt động thông qua EVA

EVA giúp ngân hàng xác định các hoạt động nào mang lại giá trị cao và cần được đầu tư thêm. Điều này giúp tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

4.2. Tạo ra giá trị cho cổ đông

Sử dụng EVA giúp ngân hàng tạo ra giá trị thực sự cho cổ đông. Việc này không chỉ giúp tăng cường lòng tin của nhà đầu tư mà còn cải thiện hình ảnh của ngân hàng trên thị trường.

V. Kết luận và tương lai của EVA trong ngân hàng

EVA đã chứng minh được giá trị của mình trong việc đánh giá thành quả hoạt động của ngân hàng. Tương lai của EVA trong ngành ngân hàng sẽ tiếp tục phát triển và trở thành một công cụ quan trọng trong quản lý tài chính.

5.1. Tương lai của EVA trong ngành ngân hàng

Với sự phát triển của công nghệ và các phương pháp quản lý mới, EVA sẽ tiếp tục được cải tiến và áp dụng rộng rãi hơn trong ngành ngân hàng. Điều này sẽ giúp các ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo ra giá trị cho cổ đông.

5.2. Khuyến nghị cho các ngân hàng

Các ngân hàng nên xem xét việc áp dụng EVA như một phần trong chiến lược quản lý tài chính của mình. Việc này không chỉ giúp cải thiện hiệu quả hoạt động mà còn tạo ra giá trị bền vững cho cổ đông.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ vận dụng thước đo giá trị kinh tế tăng thêm trong đánh giá thành quả hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯỚC ĐO GIÁ TRỊ KINH TẾ TĂNG THÊM (ECONOMIC VALUE ADDED – EVA) 1. THƯỚC ĐO GIÁ TRỊ KINH TẾ TĂNG THÊM TRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG 1. Quá trình hình thành và phát triển của thước đo EVA Giá trị kinh tế tăng thêm (Economic Value Added – EVA) là một thuật ngữ kinh tế đã xuất hiện trong hơn 200 năm và thuật ngữ này mới được phát triển bởi các nhà kinh tế Alfred Marshall trong những năm 1890. Câu chuyện bắt đầu từ việc tìm kiếm lại công bố người đoạt giải Nobel Merton H.

Miller (Đại học Chicago) và Franco Modigliani (MIT) vào năm 1958, 1960, và 1961. EVA là khái niệm đơn giản về thu nhập còn lại (Residual Income - RI). General Motors sử dụng thước đo thu nhập còn lại để đánh giá thành quả và thực hiện các khuyến khích trong thập niên 1920. Trong những năm 1950-1960 General Electric (GE) đã sử dụng RI để đánh giá thành quả hoạt động.

GE định nghĩa RI như là “sự chênh lệch giữa lợi nhuận thuần và chi phí sử dụng vốn, là phần thặng dư của lợi nhuận thuần sau khi trừ đi chi phí sử dụng vốn” (Solomons, 1965). Thế nhưng nó nhận được ít sự quan tâm cho đến khi công ty tư vấn Stern Stewart đã giới thiệu chi tiết khái niệm EVA, phát triển khái niệm này rộng hơn trong bài báo trên tạp chí Fortune (Tully, 1993) và sau đó hàng loạt các nghiên cứu liên quan đến EVA đã được công bố như: Walbert, 1993; Birchard, 1994; Brossy and Balkcom, 1994; McConville, 1994; Bennett, 1995; Ochsner, 1995; Stewart, 1995; Birchard, 1996; Davies, 1996; Gapenski, 1996; Lehn and Makhija, 1996. EVA được ứng dụng trong việc đánh giá thành quả hoạt động của doanh nghiệp, lựa chọn dự án đầu tư; xây dựng chính sách khen thưởng và được triển khai rộng khắp tại các công ty ở Hoa Kỳ, Anh, Đức, New Zealand. điển hình là công ty AT & T, Coca-Cola, và Quaker Oats.

Nhằm tìm kiếm cách thức đo lường lợi nhuận kinh tế (economic profit) thật sự mà một doanh nghiệp có thể tạo ra, định lượng nó một cách cụ thể. Nhờ đó mà chúng ta có thể xác định được mức TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ‐2‐ độ thành công cũng như thua lỗ của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nào đó một cách chính xác hơn và đơn giản hơn. Bên cạnh đó, EVA cũng là một thước đo hữu ích đối với nhà đầu tư khi muốn định lượng giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho nhà đầu tư. Nhà đầu tư cũng có thể dùng thước đo EVA để so sánh doanh nghiệp này với các doanh nghiệp khác cùng ngành một cách nhanh chóng.

Các nhà đầu tư cũng quan tâm đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp như các nhà quản lý, nhưng quan trọng hơn cả là họ muốn biết mỗi đồng vốn đầu tư bỏ ra có thu nhập thật sự là bao nhiêu sau khi tính đến chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn đầu tư. Vì thế cần có một thước đo có thể cho các nhà đầu tư cũng như các nhà quản lý thấy được giá trị thực sự của doanh nghiệp và lợi nhuận mà doanh nghiệp tạo ra có tạo ra tiền cho cổ đông hay không. Mục tiêu của tất cả các doanh nghiệp chính là việc tạo ra các giá trị cho cổ đông. EVA có thể giúp bất kỳ công ty trong bất kỳ ngành nào tạo ra kết quả tốt hơn cho các cổ đông, nhân viên và khách hàng.

Các cuộc cách mạng EVA đã được tiến hành hơn 300 công ty trên khắp các châu lục, đã thực hiện khuôn mẫu lý thuyết EVA Stern Stewart trong quản lý tài chính và chính sách khuyến khích với doanh thu gần một nghìn tỷ đô la một năm. EVA lần lượt đã giúp các nhà quản lý của các công ty này tạo ra hàng trăm tỷ đô la trên tài sản cổ đông. Có nhiều bằng chứng được các học giả nghiên cứu chỉ ra rằng khi sử dụng thước đo EVA trong việc đánh giá thành quả hoạt động như là một bộ phận cấu thành hệ thống quản lý giá trị của doanh nghiệp thì sẽ duy trì được sự ổn định và tạo động lực cho các nhà quản lý (Fortune, 1993). Như vậy sử dụng EVA sẽ giúp nhà quản lý hướng đến mục tiêu chung của doanh nghiệp là tạo ra giá trị cho cổ đông.

Ngoài ra thước đo EVA còn là cở sở phù hợp để khen thưởng các nhà quản lý với thành quả mà họ mang lại cho doanh nghiệp. Nếu không thể đo lường giá trị ấy một cách cụ thể thì các cổ đông cũng như nhà đầu tư không nhận biết giá trị tốt nhất mà doanh nghiệp thật sự tạo ra là bao nhiêu. EVA cũng được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng tri thức và giới kinh doanh, nó làm thay đổi cách chọn cổ phiếu ở Wall Street. Một số các công ty lớn ở TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ‐3‐ Wall Street đã chấp nhận EVA như một công cụ chính để xác định giá trị công ty.

EVA là một nhân tố có khả năng ảnh hưởng cao đến sự biến động giá cổ phiếu giá cổ phiếu của doanh nghiệp. Ví dụ: giá cổ phiếu của CSX tăng từ 28 USD lên 75 USD từ giữa năm 1988 và năm 1993 (Tully, 1993). Nếu EVA đang dương nhưng trong tương lai EVA có thể thấp hơn thì đó có thể là một tín hiệu không tốt đối với nhà đầu tư. Ngược lại, nếu doanh nghiệp đang có EVA âm nhưng được kỳ vọng là EVA sẽ gia tăng lên một mức rất khả quan thì đó lại là một tín hiệu tốt thúc đẩy nhà đầu tư mua cổ phiếu của doanh nghiệp.

Khái niệm, ý nghĩa thước đo EVA 1. Khái niệm Giá trị kinh tế tăng thêm (Economic value added -EVA) là thước đo phần thu nhập tăng thêm từ chênh lệch giữa lợi nhuận hoạt động sau thuế và chi phí sử dụng vốn (Ehrbar, 1998). Chi phí sử dụng vốn trong xác định EVA là chỉ tiêu mà các nhà kinh tế gọi là chi phí cơ hội. Đó là suất sinh lợi mà các nhà đầu tư mong đợi để có được khi bỏ tiền vào một khoản đầu tư khác có rủi ro tương đương (Ehrbar, 1998).

Lãi suất sử dụng vốn và số vốn sử dụng là nhân tố cấu thành nên chi phí sử dụng vốn. Lãi suất sử dụng vốn phụ thuộc vào khá nhiều yếu tố như tính rủi ro của việc sử dụng vốn, lãi suất của các khoản nợ, cấu trúc vốn của doanh nghiệp và chính sách phân phối lợi nhuận (Ehrbar,1998). Trong lĩnh vực tài chính thì lãi suất sử dụng vốn được xác định từ thị trường vốn, là tỷ lệ hoàn vốn đầu tư tối thiểu cần phải đạt được để đảm bảo tạo ra giá trị tăng thêm và duy trì tỷ suất lợi nhuận. Đối với nhà đầu tư thì lãi suất sử dụng vốn là tỷ suất sinh lời mà nhà đầu tư đòi hỏi khi đầu tư vốn vào doanh nghiệp.

Mức sinh lời này phải tương ứng với mức độ rủi ro mà nhà đầu tư có thể gặp phải khi đầu tư. Xác định EVA đòi hỏi các chỉ tiêu được phán ánh theo quan điểm kinh tế khắc phục được hạn chế của các thước đo truyền thống khác khi sử dụng số liệu kế toán phục vụ cho việc tính toán. Tính EVA dựa trên quan điểm kinh tế là xem tất các các nguồn vốn được huy động vào hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh đều phát sinh chi phí sử dụng vốn và phải được phản ánh theo cơ sở tiền. Vốn đầu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ‐4‐ tư là số vốn doanh nghiệp cần phải có để thực hiện hoạt động đầu tư hay hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, về nguyên tắc thì vốn đầu tư nên được xác định theo giá thị trường.

Việc tính toán EVA sẽ tạo ra một EVA dương hoặc âm. EVA dương phản ánh công ty đang tạo ra gia tăng giá trị cho các cổ đông của mình, trong khi EVA âm phản ánh công ty đang giảm dần giá trị của các cổ đông (Ehrbar, 1998). Sự khác biệt giữa giá trị sổ sách kế toán, giá trị thị trường của các loại tài sản và vốn đầu tư; Sự khác nhau giữa khái niệm lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán nên khi tính EVA cần phải thực hiện một số điều chỉnh. Lợi nhuận kinh tế là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến khoản đầu tư đó bao gồm cả chi phí cơ hội, chi phí sử dụng vốn.

Lợi nhuận kế toán là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí bao gồm các loại thuế. Công ty có thể đạt được lợi nhuận kế toán nhưng không mang lại lợi nhuận kinh tế. Trước đây người ta vẫn quen dùng chỉ số lợi nhuận ròng hay thu nhập trên mỗi cổ phần EPS là căn cứ tính giá trị doanh nghiệp tạo ra cho cổ đông. Song, càng ngày người ta càng ưa dùng thước đo EVA.

Bởi vì EVA xác định mức lợi nhuận của doanh nghiệp sau khi trừ đi chi phí sử dụng vốn. Điều này là dễ hiểu, lợi nhuận nên được tính tương xứng với chi phí sử dụng vốn. Dễ thấy nhất là nếu cả hai doanh nghiệp đều tạo ra lợi nhuận là 1 tỷ đồng một năm, nhưng một doanh nghiệp đã phải sử dụng vốn đầu tư 500 triệu với một doanh nghiệp chỉ sử dụng vốn đầu tư có 200 triệu nên phải được đánh giá khác nhau. Để giải thích rõ hơn cho sự lựa chọn EVA thay vì các chỉ tiêu về thu nhập ròng, chúng ta lấy ví dụ về công ty thực phẩm Vissan.

Năm đầu hoạt động, công ty tạo ra được thu nhập từ hoạt động là 100 tỷ đồng trên vốn hoạt động là 1. Như vậy công ty đã tạo ra được tỷ suất sinh lợi trên vốn là 10%. Theo tính toán của kế toán thì rõ ràng công ty đang hoạt động kinh doanh rất tốt. Tuy nhiên, công ty đâu chỉ hoạt động trong một năm rồi đóng cửa, thị trường thực phẩm không phải lúc nào cũng ổn định, rủi ro tiềm ẩn lúc nào cũng có và có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Sức ép đối với các nghĩa vụ nợ cộng với tỷ suất sinh lợi đòi hỏi mà nhà đầu tư yêu cầu cho thời gian đầu khi đầu tư vào doanh nghiệp mới khởi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ‐5‐ nghiệp đã làm gia tăng chi phí sử dụng vốn của công ty lên đến 12%. Điều đó có nghĩa là năm ngoái, mặc dù công ty đạt lợi nhuận kế toán, nhưng thật sự thì các cổ đông của công ty đang bị lỗ 2%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ