Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về Dự án. Thuật ngữ “Dự án” đã được sử dụng từ rất lâu để đặt tên cho một loạt các họat động của mình nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu nhất định trong khoảng thời gian nhất định. “Dự án” có thể coi là một quá trình gồm các các hoạt động có liên quan tới nhau được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện ràng buộc về thời gian, nguồn lực và ngân sách.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Dự án, hướng mục tiêu thường bị chi phối, mức độ đạt mục tiêu khác với dự kiến đặt ra ban đầu. Điều đó thể hiện sự phản hồi của các hoạt động trong Dự án và mối liên hệ giữa các mặt trong phạm vi thời gian và không gian thực hiện Dự án. Trong lý thuyết cũng như trong thực tiễn quản lý kinh tế hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về dự án. Mỗi quan điểm về Dự án xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu.
Theo từ điển tiếng Anh Oxford: “Dự án (DA) là một chuỗi các sự việc tiếp nối được thực hiện trong khoảng thời gian giới hạn và ngân sách xác định nhằm xác định mục tiêu là đạt được kết quả duy nhất nhưng được xác định rõ”. Theo Ngân hàng thế giới-WB: Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian nhất định. Từ điển xã hội học của David Jary và Julia Jury (1991)[35], đưa ra định nghĩa về Dự án như sau: Những kế hoạch của địa phương được thiết lập với mục đích hỗ trợ các hành động cộng đồng và phát triển cộng đồng. Theo định nghĩa này có thể hiểu Dự án là một kế hoạch can thiệp có mục tiêu, nội dung, thời gian, nhân lực và tài chính cụ thể.
Dự án là sự hợp tác của các lực lượng xã hội bên ngoài và bên trong cộng đồng. Với cách hiểu như trên thì thước đo sự thành công của Dự án không chỉ là việc hoàn thành các hoạt động có tính kỹ thuật (đầu tư cái gì, cho ai, n 13 bao nhiêu, như thế nào) mà nó có góp phần gì vào quá trình chuyển biến xã hội tại cộng đồng. Nhưng nhìn chung, dưới góc độ tổng quát thì có những điểm chung khái niệm về DA là một sự đầu tư về tài chính thông qua các họat động để đạt một ý đồ đặt ra. DA bao gồm các yếu tố: Nhiệm vụ như thế nào? Mục tiêu là cái gì, nhóm đối tượng gì? Thời gian thực hiện khi nào? Chi phí bao nhiêu và người thực hiện là ai? Nhóm hưởng lợi là ai… Nhưng cũng tùy thuộc loại mục tiêu mà góc độ định nghĩa về DA có nhiều điểm khác nhau.
Đánh giá Dự án. Đánh giá DA là một nhiệm vụ nằm trong các chuỗi hoạt động của DA. Tùy thuộc mục tiêu đánh giá mà có quy mô thực hiện đánh giá khác nhau. Đánh giá giai đoạn hoặc là đánh giá định kỳ là nhằm rà soát, so sánh nhiệm vụ, mục tiêu theo một kế hoạch nào đó đồng thời dự đoán hiệu quả trong tương lai.
Theo lý thuyết về đánh giá DA thì tại các công trình nghiên cứu của một số tác giả như: L.Therse Barker (1995)[37], Who, Jim Woodhill Gittinger, Dixon và Hufschmidt (1991)[33], đã thể hiện đánh giá liên quan đến việc đo lường, so sánh và đưa ra những nhận định về kết quả của hệ thống các họat động DA, đánh giá còn là xem xét một cách logic có hệ thống nhằm xác định tính hiệu quả, mức độ thành công của DA, tác động đến các mặt của đời sống xã hội và tự nhiên. Hoạt động đánh giá là một công tác được triển khai khi đã có một số các hoạt động chính của DA diễn ra theo định kỳ hay gọi cách khác là đánh giá giai đoạn, hoặc khi tổng thể các họat động của DA đã chấm dứt.Grady (1991)[36] đã phân loại đánh giá DA bao gồm đánh giá tiến trình và đánh giá mục tiêu. Đánh giá mục tiêu là xem xét, so sánh tính hiệu quả của DA có đạt được mục tiêu hay không. Đánh giá tiến trình là công việc ngoài sự xem xét các nội dung của DA để đạt được mục tiêu thì còn xem xét tiến độ thực hiện DA theo từng công đoạn của thời gian.
Để đánh giá DA, người ta sử dụng nhiều phương pháp thực hiện như điều tra khảo sát (servey), phỏng vấn (interview), thảo luận nhóm (focus group), phương n 14 pháp phỏng vấn, phương pháp động não…tất cả các nội dung của hoạt động đánh giá có ý nghĩa quan trọng nhằm điều chỉnh, sửa đổi để phù hợp khách quan với tình hình thực tế trong quá trình thực hiện DA. Các khía cạnh đánh giá tác động của Dự án. Đánh giá tác động của DA là những việc làm để xem xét một cách toàn diện về các tác động của nó làm ảnh hưởng đến các lĩnh vực của đời sống xã hội và tự nhiên mà cụ thể là kinh tế, xã hội và môi trường đã định trước ở mục tiêu của DA. Về phương pháp đánh giá tác động DA tùy thuộc loại Dự án mà có phương pháp phù hợp.
Theo FAO [36] thì đánh giá tác động của DA về mặt kinh tế thường tập trung phân tích lợi ích và chi phí xã hội nên các lợi ích và các chi phí xã hội phải tính suốt cả thời gian mà sản phẩm DA chưa có đoạn kết. Nhưng nhìn chung, để đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế của DA thì tổng mức đầu tư khi bắt đầu triển khai DA đến khi có sản phẩm đầu ra ở điểm kết thúc DA và mức chiết khấu nguồn đầu tư. Đánh giá tác động liên quan về xã hội, H.M Gregersen và Brooks [32] nêu rằng: Bất cứ khi nào có một sự thay đổi phát sinh qua một DA như tạo việc làm mới, tăng diện tích canh tác, năng suất sản xuất, chất lượng sản phẩm tăng lên… thì quá trình đánh giá không những phải xác định phần lợi ích gia tăng mà còn xác định các yếu tố lợi ích liên quan xã hội, nếu chỉ căn cứ vào tiền mặt luân chuyển trong quá trình thực hiện DA thì đây là một phân tích đánh giá tài chính đơn thuần chứ không phải một đánh giá kinh tế mang tính xã hội. Về môi trường UNEP (1998)[38], đã xây dựng bản hướng đánh giá tác động môi trường của các DA phát triển.
Đây là phương pháp nghiên cứu nhằm dự báo các tác động môi trường của một DA, thể hiện sự ảnh hưởng của kết quả về các hoạt động của DA đối với môi trường. Khái niệm về Dự án. Cũng như trên thế giới, ở Việt Nam thuật ngữ Dự án được dùng rộng rãi, tuy nhiên chỉ mới phổ biến trong vài thập kỷ gần đây. n 15 Theo Viện quản trị Dự án: Dự án (DA) là một nỗ lực nhất thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hay một dịch vụ độc nhất vô nhị.
Theo đại bách khoa toàn thư: Dự án (Project) là điều người ta có ý định làm hay đặt kế hoạch cho một ý đồ, một quá trình hành động… - Dự án là một nỗ lực tổng hợp bao gồm các nhiệm vụ có liên quan với nhau được thực hiện trong giới hạn về thời gian, ngân sách và với một mục tiêu được định nghĩa một cách rõ ràng. Dự án là một tập hợp có tổ chức các hoạt động và các quy trình đã được tạo ra để thực hiện các mục tiêu riêng biệt trong các giới hạn về nguồn lực, ngân sách và các kỳ hạn đã được xác định trước. Trong một số tài liệu và các tác phẩm của các tác giả Nguyễn Thị Oanh [13], Tô Huy Hợp, Lương Hồng Quang [17], tài liệu hướng dẫn đánh giá tác động môi trường (Nhà xuất bản Xây Dựng - 2008), đều đưa ra các định nghĩa về DA. Nhìn chung, các khái niệm đều mang những nét chung là thể hiện thống nhất về sự can thiệp của con người trong tổ chức, kế hoạch DA để có được những mục tiêu mong muốn.
Theo Quy chế quản lý đầu tư, xây dựng và đấu thầu - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) thì “DA là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hay cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định”. Cũng theo MPI thì “DA đầu tư là một hệ thống các thuyết minh được trình bày một cách chi tiết, có luận cứ các giải pháp sử dụng nguồn lực để đạt tới mục tiêu cao nhất của chủ trương đầu tư”. Mặc dù có sự khác nhau về cách định nghĩa Dự án, nhưng các tác giả đều thống nhất cho rằng: DA là một tập hợp các hoạt động có kế hoạch định trước với một nguồn tài lực dự kiến trước nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu định trước trong phạm vi không gian và thời gian nhất định. Mục tiêu của Dự án đều là tạo sự thay đổi trong nhận thức và hành động, thay đổi điều kiện sống của cộng đồng trên cả ba mặt kinh tế - xã hội và môi trường.
Đánh giá tác động Dự án. Hàng loạt các công trình về đánh giá hiệu quả và tác động của các dự án, đặc biệt là các Dự án trong lĩnh vực lâm nghiệp của Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu thực hiện trong những năm qua, nhất là trong thời gian gần đây khi mà xu thế quản lý rừng bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu đòi hỏi tất cả các nước phải giám sát chặt chẽ các tác động từ các hoạt động Dự án mang lại. Nhóm chuyên gia của chương trình phát triển Nông thôn miền núi Việt Nam - Thụy Điển (MRDP1) và viện điều tra quy hoạch rừng đã nghiên cứu sự thay đổi của thảm thực vật và độ che phủ rừng trong giai đoạn 10 năm (1989- 1998), trên địa bàn 5 tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang và Hà Giang” [31], Nghiên cứu đã đánh giá sự thay đổi chung của 5 tỉnh và đánh giá chi tiết sự thay đổi của 20 xã trong đó có 10 xã được sự hỗ trợ của chương trình Hợp tác xã Lâm nghiệp (FCP2) và 10 xã ngoài 2 chương trình đó.