ĐẶT VẤN ĐỀ Đau vùng cổ gáy (mã số ICD 10: M54.2) là tình trạng đau cấp hoặc mạn tính tại cột sống cổ (có thể có lan) thường xuất hiện sau khi thay đổi thời tiết, hay sau một động tác đột ngột, sai tư thế của cột sống cổ; hoặc cũng có khi xuất hiện kín đáo, thường kèm theo co cứng cơ và hạn chế vận động cột sống cổ. Đau vùng cổ gáy xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, song phần lớn lại là biểu hiện của một số bệnh cơ xương khớp. Đau vùng cổ gáy gặp ở cả nam và nữ, ở mọi lứa tuổi trong đó những người trong độ tuổi lao động là hay gặp nhất, nhất là những người lao động nặng. Mặc dù đau vùng cổ gáy thường không gây biến chứng nhưng làm ảnh hưởng đến sức khỏe, khả năng lao động, sinh hoạt hằng ngày của người bệnh, ảnh hưởng đến kinh tế gia đình cũng như xã hội [1].
Đau vùng cổ gáy là biểu hiện đau liên quan đến thời tiết và các bệnh lý tại cột sống cổ làm khởi phát hoặc làm tăng các triệu chứng. Ví dụ như đau do lạnh, do sai tư thế cột sống cổ, do lao động ở trạng thái tĩnh, do thoái hóa cột sống cổ, do stress,. Theo nguyên nhân gây đau vùng cổ gáy, việc điều trị chủ yếu là điều trị nội khoa, ngoại khoa và vật lý trị liệu, phục hồi chức năng. Việc điều trị phẫu thuật được cân nhắc khi điều trị nội hoa không có kết quả hoặc chèn ép thần kinh thể hiện trên lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh [2],[3].
Đối với y học hiện đại, hiện nay có nhiều thuốc có tác dụng giảm đau khá tốt, tuy nhiên các loại thuốc này có không ít tác dụng phụ như gây bệnh dạ dày, tim mạch, suy chức năng gan, thận,. Theo y học cổ truyền (YHCT), đau vùng cổ gáy nằm trong phạm vi của Chứng tý và có bệnh danh là Lạc chẩm thống. Điều trị chứng Tý theo Y học cổ truyền bao gồm khu phong, tán hàn, trừ thấp, thông kinh hoạt lạc, bổ can 2 thận. Dựa trên các pháp điều trị đó, có thể lựa chọn nhiều phương pháp điều trị trong hai nhóm dùng thuốc và không dùng thuốc gồm châm cứu, xoa bóp (XB), bấm huyệt (BH), cấy chỉ,.
Ở nước ta từ nhiều năm trước, trong Y học cổ truyền XB, BH là những phương pháp dễ thực hiện, ít xảy ra tai biến, được ứng dụng với ưu điểm giá thành phù hợp với điều kiện kinh tế của nhiều bệnh nhân, không yêu cầu các thiết bị hiện đại, dễ phổ biến, hiệu quả cao và đã được nhiều nghiên cứu khẳng định tác dụng trong điều trị các bệnh cơ xương khớp, thần kinh,. Cồn thuốc CMO Tuệ Tĩnh bao gồm các vị thuốc khu phong hàn, trừ thấp, hoạt huyết, rất phù hợp với các chứng tý nguyên nhân do hàn tà gây ra. Trên lâm sàng, cồn CMO Tuệ Tĩnh đã được sử dụng để điều trị cho các bệnh nhân đau vùng cổ gáy và có kết quả khả quan. Tuy nhiên, tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh chưa có nhiều nghiên cứu để đánh giá tác dụng của bài thuốc một cách hệ thống.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị Đau vùng cổ gáy của cồn xoa bóp CMO Tuệ Tĩnh”. Với mục tiêu nghiên cứu: 1. Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị Đau vùng cổ gáy thể Phong hàn thấp của cồn xoa bóp CMO Tuệ Tĩnh trên một số chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng. Theo dõi tác dụng không mong muốn của cồn xoa bóp CMO Tuệ Tĩnh.
3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu sinh lý và chức năng của cột sống cổ 1. Giải phẫu nh 1 1 Các đốt sống cổ [7] - Cột sống cổ có 7 đốt, từ C1 đến C7, tạo đường cong ưỡn ra trước, đốt C1 (đốt đội) không có thân đốt, đốt C7 có mỏm gai dài nhất sờ thấy rõ. Đặc điểm của xương cột sống: + Thân đốt sống: đường kính ngang lớn hơn đường kính trước sau, mặt bên có hai phình bên gọi là mỏm móc hay mấu bán nguyệt.
+ Cuống: tròn và dầy, dính ở phần sau mặt bên thân đốt sống. + Mảnh: rộng bề ngang hơn bề cao. + Mỏm ngang: dính vào thân và hai cuống bởi hai rễ, trong đó lỗ ngang cho động mạch đốt sống đi qua (trừ đốt C7). + Mỏm khớp: diện khớp phẳng rộng, diện của mỏm trên nhìn lên trên, ra sau, diện của mỏm dưới nhìn xuống dưới, ra trước.
4 + Gai sống: đỉnh của gai sống tách ra làm hai củ, gai sống dài dần từ C2 đến C7. + Lỗ đốt sống: to dần từ đốt C1 đến C5 và nhỏ dần ở đốt C6 đến C7. Khi khớp gian đốt sống bị thoái hoá, các gai xương thường làm hẹp lỗ gian đốt sống và chèn ép vào rễ thần kinh [8],[9],[10]. - Đĩa đệm: là bộ phận chính cùng với dây chằng đảm bảo sự liên kết chặt chẽ giữa các đốt sống và đóng vai trò hấp thu chấn động.
Đĩa đệm có hình thấu kính hai mặt lồi, nằm trong khoang gian đốt sống, bao gồm nhân nhầy, vòng sợi và mâm sụn [5], [11]. - Dây chằng: + Dây chằng dọc trước: Phủ mặt trước các thân đốt sống, từ đốt đội tới phần trên mặt trước xương cùng, ngăn cản sự ưỡn quá mức của cột sống + Dây chằng dọc sau: Phủ mặt sau thân đốt sống, đi từ xương chẩm tới mặt trước xương cụt, ngăn cản sự gấp quá mức của cột sống và thoát vị đĩa đệm ra sau. + Dây chằng vàng: Phủ mặt sau ống sống, được cấu tạo hoàn toàn bằng mô chun, chạy giữa các mảnh kề nhau và gần như lấp kín khoang liên mảnh. + Dây chằng liên gai (nằm giữa các mỏm gai) và dây chằng trên gai (nối đỉnh các mỏm gai) giữ vững mặt sau cột sống khi đứng thẳng và gấp tối đa [7], [8].
- Cấu trúc mạch máu: + Từ đốt C2 đến C6 có động mạch đốt sống nền chạy trong lỗ động mạch ở giữa mỏm ngang của mỗi đốt và ngay bên cạnh mỏm móc, kèm theo động mạch có tĩnh mạch và một số nhánh thần kinh giao cảm cổ. + Mạch máu nuôi dưỡng xương cột sống và đĩa đệm cột sống cổ rất hạn chế chủ yếu ở xung quanh vòng sợi [7], [8]. - Cấu trúc tủy và thần kinh: Đoạn tủy cổ gồm có 8 đốt bắt đầu từ C1 – D1 chứa trong ống sống. Đoạn tủy cổ tách ra 8 đôi dây thần kinh chui qua lỗ tiếp hợp ra ngoài tạo thành đám rối thần kinh cánh tay chi phối vận động và 5 cảm giác cho chi trên [7], [8].
+ Đám rối cổ được tạo nên bởi nhánh trước của bốn thần kinh sống cổ đầu tiên. Các nhánh trước này liên kết với nhau thành các quai nối nằm trước cơ nâng vai và cơ bậc thang giữa, sau tĩnh mạch cảnh trong và cơ ức đòn chũm. Đám rối cổ tách ra các nhánh nông đi tới da và các nhánh sâu; các nhánh sâu bao gồm các nhánh cơ và các nhánh nối [8]. + Đám rối cánh tay được tạo nên từ nhánh trước của bốn thần kinh sống cổ dưới và phần lớn nhánh trước của thần kinh sống ngực I.
Nhánh trước của thần kinh cổ IV thường tách một nhánh đi tới thần kinh cổ V và thần kinh ngực I thường nhận một nhánh từ thần kinh ngực II. Các nhánh trước này được gọi là các rễ của đám rối. Nhánh trước của các thần kinh cổ V và VI hợp thành thân trên, nhánh trước của các thần kinh cổ VIII và thần kinh ngực I tạo nên thân giữa, nhánh trước của thần kinh cổ VII trờ thành thân dưới. Các thân này chạy chếch ra ngoài ở tam giác cổ sau và, ở sau xương đòn, mỗi thân tách đôi thành các phần trước và sau.
Các phần trước của thân trên và thân giữa tạo nên bó ngoài, nằm ở ngoài động mạch nách. Phần trước của thân dưới đi xuống ở sau rồi ở trong động mạch nách và trở thành bó trong. Phần sau của cả ba thân tạo nên bó sau, nằm sau động mạch nách [8]. + Hệ thống giao cảm cổ: hai thành phần chủ yếu của hệ thống thần kinh của thần kinh giao cảm ảnh hưởng ở vùng cột sống cổ, nó tác động đến toàn thân, tuyến mồ hôi, nang lông.
+ Chuỗi giao cảm cổ: chuỗi hạch giao cảm cổ nối với các dây thần kinh tủy sống bởi các rễ nối thông. Mặc dù không truyền cảm giác nhưng chuỗi giao cảm như là một chất kiểm soát đau. + Thần kinh sống là thần kinh vận mạch tới động mạch, kiểm soát lưu lượng máu lên não. - Hệ thống cơ của cột sống cổ [12], [13] 6 Hình 1.
Hệ cơ vùng vai gáy [12] Hệ thống cơ của cột sống cổ được phân chia thành hai hệ thống chính, một hệ là gấp và duỗi hộp sọ trên cột sống cổ, hệ còn lại là gấp và duỗi chọn lọc chủ yếu cho cột sống cổ. + Các cơ gấp hộp sọ là cơ thẳng đầu ngắn và cơ dài đầu. + Những cơ duỗi hộp sọ gồm bốn cơ ngắn là các cơ thẳng đầu sau nhỏ và lớn, các cơ chéo đầu trên và dưới. + Các cơ dài hơn là các cơ dài đầu và dài cổ, là các cơ xoay đầu chủ yếu nhưng cũng tham gia vào vào động tác duỗi khi chúng co hai bên.
+ Các cơ khác vận động cột sống cổ là các cơ xuất phát cột sống ngực trên và xương vai, chức năng chủ yếu là các duỗi, xoay và nghiêng cột sống cổ; chúng bao gồm các cơ thang, cơ nâng vai và các cơ khác. + Khối cơ dựng sống vừa có tác dụng trên toàn bộ cột sống vừa có tác dụng tại cột sống cổ. Điều đó có nghĩa chính nơi đây là vùng chịu nhiều sự căng thẳng. Chức năng Chức năng vận động: cột sống cổ có tầm vận động linh hoạt hơn cột sống thắt lưng là do: khớp đốt sống cổ có góc nghiêng phù hợp, do khả năng 7 đàn hồi của đĩa đệm, do đốt sống C1 có thể quay quanh C2, vì vậy đảm bảo cho đầu chuyển động nhanh và dễ dàng [14].
Chức năng chịu tải trọng và bảo vệ tuỷ: ở cột sống cổ các thân đốt sống nhỏ, đĩa đệm không chiếm toàn bộ bề mặt thân đốt, do đó tải trọng tác động lên đĩa đệm cột sống cổ lớn hơn các phần khác của cột sống. Tải trọng dẫn tới sự giảm chiều cao gian đốt. Khoang gian đốt C5-C6, C2-C3 là những nơi chịu tải trọng nhất ở cột sống cổ [14]. Các vận động của cột sống cổ + Cử động theo mặt phẳng trước sau: Gấp, duỗi cổ 400.