Chương 1. Giới thiệu 7 Trần Kim Vân, (07/01/2016), “Nhìn lại công tác phát hành Trái phiếu Chính phủ năm 2015: Những thách thức trong năm 2016” đăng trên mof.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Nội dung của chương này nhằm giới thiệu khái quát về bối cảnh chính sách, cho thấy tính cấp thiết phải nghiên cứu đề tài. Từ đó, xác định câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu phù hợp. Cơ sở lý thuyết Chương 2 trình bày tóm tắt các khái niệm có liên quan về đầu tư, đầu tư công, đầu tư tư nhân.
Chương này cũng chỉ ra cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân, các phương pháp và kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và tại Việt Nam. Qua đó giúp xây dựng nền tảng lý thuyết cho việc đánh giá tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân ở các phần sau của bài nghiên cứu. Tổng quan nền kinh tế và đánh giá hoạt động đầu của Việt Nam Mô tả và phân tích về nền kinh tế vĩ mô Việt Nam, các chính sách quan trọng, các vấn đề bất cập có liên quan trong giai đoạn gần đây. Chương này cũng đi sâu phân tích diễn biến của đầu tư công và đầu tư tư nhân về mọi mặt từ quy mô, chất lượng, nguồn lực, đánh giá ý nghĩa của những biến động và tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân qua các phân tích định tính.
Đánh giá tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân Chương 4 sẽ xây dựng mô hình định lượng dựa trên lý thuyết gia tốc đầu tư, sử dụng phương pháp VECM đánh giá tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân và ảnh hưởng của các nhân tố có liên quan khác tới đầu tư tư nhân thông qua các hàm phản ứng đẩy. Kết luận và kiến nghị Trên cơ sở các nghiên cứu thực nghiệm ở chương 2, phân tích ở chương 3, kết quả đo lường tác động ở chương 4, nghiên cứu đưa ra kết luận và một số kiến nghị chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan về đầu tư Theo Sachs và Larrain (1993)16 đầu tư được định nghĩa một cách tổng quát là “phần sản lượng được tích luỹ để tăng năng lực sản xuất trong thời kỳ sau của nền kinh tế”.
Sản lượng đến từ cả khu vực sản xuất trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài. Nó bao gồm những sản phẩm hữu hình như nhà cửa, máy móc thiết bị… và các sản phẩm vô hình như phát minh, sáng chế…. Hiện nay, theo cách hiểu thông thường, “đầu tư” là việc bỏ vốn, tài sản (có thể là hữu hình như tiền bạc, đất đai…. hoặc vô hình như phát minh, sáng chế….) để thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm thu về lợi ích trong tương lai (Vũ Tuấn Anh, 2011).
Trong kinh tế học vĩ mô, đặc biệt là khi nhắc đến các mô hình tăng trưởng, “đầu tư” được hiểu là yếu tố “vốn tư bản”, dùng để mua máy móc hay nhà xưởng, là một thành phần trong hàm sản xuất giúp tăng năng suất lao động và sản lượng cho nền kinh tế. Như vậy các hoạt động “đầu tư” không đi vào khu vực sản xuất, không tạo ra giá trị vật chất sẽ không được coi là yếu tố đầu tư theo khái niệm của kinh tế vĩ mô17. Đầu tư công Lý thuyết kinh tế học khu vực công định nghĩa đầu tư công là hoạt động đầu tư nhằm tạo năng lực sản xuất và cung ứng hàng hoá công cộng như trường học, bệnh viện, an ninh quốc phòng…. hay bản chất của đầu tư công chính là một cách thức biểu hiện can thiệp của nhà nước nhằm sửa chữa thất bại thị trường18.
Vì vậy mục tiêu của hoạt động đầu tư công là hướng tới giải quyết các bất cập mà bản thân nền kinh tế, thị trường không thể tự giải quyết. Đầu tư công không theo đuổi các lợi ích kinh tế đơn thuần. Luật Đầu tư công của Việt Nam (2014) đưa ra định nghĩa rằng đầu tư công bao gồm “các hoạt động đầu tư của nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế- xã hội”. Tuy nhiên trên thực tế, đầu tư công hay còn được gọi là đầu tư Chính phủ hiện nay được hiểu một cách khá phổ biến và đơn giản là các khoản đầu tư xuất phát từ nguồn vốn của khu 16 Sach và Larrain, 1993, “Macroeconomics in Global Economy”, dẫn từ Bùi Trinh và Bùi Bá Cường “Một số vấn đề về vốn và đầu tư” đăng trên gso.
17 Nguyên lý kinh tế học, Chương 12 – Tiết kiệm, đầu tư và hệ thống tài chính. 18 Thất bại thị trường gồm có 4 vấn đề: bất cân xứng thông tin, hàng hoá công, ngoại tác và bất bình đẳng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 vực Nhà nước, bao gồm: vốn ngân sách, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển, và vốn được sử dụng đầu tư vào các DNNN hoặc các khoản vốn khác do nhà nước quản lý. Đầu tư của khu vực tư nhân Theo nghĩa hẹp, đầu tư tư nhân là các hoạt động sử dụng nguồn lực hiện có để làm tăng thêm tài sản vật chất như máy móc thiết bị, tăng vốn con người như chất lượng nguồn nhân lực… đưa vào quá trình hoạt động sản xuất, thương mại… để làm tăng của cải trong tương lai của các cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp không thuộc sở hữu nhà nước và khu vực nước ngoài.
Đầu tư tư nhân hiểu theo nghĩa rộng có thể bao gồm cả chủ thể là các khu vực đầu tư nước ngoài, bộ phận đóng góp đáng kể vào GDP. Khái niệm đầu tư của khu vực tư nhân trong nghiên cứu được sử dụng theo nghĩa hẹp. Qua các định nghĩa trên cho thấy sự khác biệt cơ bản giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân nằm ở hai yếu tố: nguồn lực và mục tiêu của hoạt động đầu tư. Thay vì nguồn vốn đầu tư đến từ ngân sách quốc gia, nguồn lực “chung” của nền kinh tế và phục vụ cho lợi ích chung của xã hội, đầu tư tư nhân do tư nhân tự bỏ vốn “riêng” và thông thường chỉ đơn thuần hướng đến mục tiêu lợi nhuận.
Phân biệt hai phạm trù đầu tư công và đầu tư tư nhân về mặt lý thuyết sẽ giúp nghiên cứu nhìn nhận và đánh giá đúng đắn hơn các hoạt động đầu tư trong thực tế. Cơ chế tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân Các học thuyết kinh tế chỉ ra rằng đầu tư công có thể gây ra cả tác động bổ trợ và chèn lấn đối với đầu tư tư nhân. Về nguyên tắc để tăng đầu tư công cần phải có tiền. Vì vậy, Chính phủ sẽ phải tăng nguồn thu ngân sách thông qua tăng thuế, phí hoặc vay nợ bằng cách phát hành trái phiếu.
Theo lý thuyết trọng cầu của Keynes (1936)19, nếu Chính phủ lựa chọn chính sách tăng thuế để tăng đầu tư công sẽ làm giảm thu nhập khả dụng của nền kinh tế, giảm chi tiêu của hộ gia đình từ đó làm giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp. Ngoài ra, thuế và phí tăng cũng trực tiếp làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp vì nó được tính vào chi phí. Vì vậy, trong dài 19 Keynes, 1936 “General Theory on Employment, Interest and Money”. Hàm thu nhập khả dụng: Yd = Y – T Hàm chi tiêu hộ gia đình: C = Co + MPC.
( Y – T) Hàm tổng cầu: Y = C + I + G + NX LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 hạn doanh nghiệp có thể phải thu hẹp quy mô. Khi sản lượng và lợi nhuận đều sụt giảm, các nhà đầu tư không còn động lực tăng thêm vốn, vì vậy đầu tư tư nhân sẽ giảm. Mặt khác, nếu Chính phủ phát hành trái phiếu để đầu tư, cầu về vốn tăng. Trong điều kiện nguồn cung vốn không tăng tương ứng, lãi suất thị trường sẽ tăng20.
Vì vậy các doanh nghiệp hoặc không còn khả năng tiếp cận vốn hoặc sẽ phải chịu chi phí vốn cao hơn. Hoạt động kinh doanh bị gián đoạn và lợi nhuận biên sụt giảm. Các nhà đầu tư tư nhân mất đi động lực đầu tư, thậm chí có thể phải thu hẹp sản xuất. Nếu đầu tư công còn được thực hiện trong các lĩnh vực, ngành cạnh tranh trực tiếp với khu vực kinh tế tư nhân, tác động chèn lấn về cơ hội và hoạt động của đầu tư công đối với đầu tư tư nhân sẽ lớn hơn nữa.
Bên cạnh đó, đầu tư công cũng có thể tạo ra tác động bổ trợ đối với đầu tư tư nhân khi thực hiện đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng hiệu quả như đường sá, bến cảng, sân bay, hệ thống giáo dục, y tế, khoa học cơ bản…Sự phát triển của điều kiện cơ sở hạ tầng và nguồn lực con người giúp cải thiện điều kiện hoạt động và môi trường kinh doanh, tăng năng suất và lợi nhuận biên của khu vực đầu tư tư nhân và toàn nền kinh tế, thu hút và khuyến khích các nhà đầu tư mở rộng hoạt động, thúc đẩy phát triển kinh tế21. Tóm lại, các lý thuyết đơn thuần đều chỉ ra tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân trên cả hai phương diện bổ trợ và chèn lấn. Vì vậy đầu tư công thực tế bổ trợ hay chèn lấn đầu tư tư nhân vẫn còn là một bài toán thực nghiệm. Đánh giá tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân 2.
Khung phân tích lý thuyết Lý thuyết về cơ chế tác động ở trên đã chỉ ra đầu tư công có thể tác động đến đầu tư tư nhân thông qua chi phí sử dụng vốn (lãi suất, hoặc thuế phí). Tuy nhiên, cũng như nhiều quốc gia khác, nền kinh tế Việt Nam hiện nay vẫn nằm trong nhóm các quốc gia đang phát triển và mức độ phát triển của thị trường tài chính chưa cao, lãi suất chưa tự do hoàn toàn mà vẫn chịu sự kiểm soát của các các chính sách điều hành vĩ mô, vì vậy đo lường tác động của đầu tư công đến đầu tư tư nhân qua kênh chi phí vốn là chưa đủ thuyết phục. Nghiên cứu lựa chọn sử dụng sản lượng là yếu tố phản ánh sự biến động của đầu tư trong nền kinh tế dựa trên lập luận của lý thuyết gia tốc đầu tư được xây dựng bởi Jorgenson và Keynes (1967).