Chương 1 KHÁI QUÁT VE ĐÁNH GIA TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH 1.1 Khái niệm đánh giá tác động chính sách 1.1 Khái niệm chính sách Chính sách là thuật ngữ đa nghĩa và đa cấp độ. Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm chính sách. Theo Từ điển tiếng Việt “chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch cu thé nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách.” Theo Tác giả Nguyễn Anh Phương, trong một bài viết của mình ! đã liệt kê một số ghi chú ngắn của một số học giả nước ngoài khi bàn về khái niệm chính sách như sau: e Chính sách là thiết kế sự lựa chọn quan trọng nhất (đã) được làm ra (thực thì), đối với các tổ chức, cũng như đời song cá nhân ˆ; e Chính sách là một chuỗi (tập hợp) những hành động có mục đích nhằm giải quyết một van đề >; e Chính sách là những gì mà Chính phủ làm, lý do làm, và sự khác biệt nó tạo ra *; e Chính sách là những gi mà Chính phủ làm hoặc bỏ qua không làm °; e Chính sách là một hành động mang tính quyền lực nhà nước nhăm sử dụng nguôn lực dé thúc đây một giá trị ưu tiên 5; e Chính sách là một công việc được thực hiện liên tục, bởi những nhóm hoạch định, nhằm sử dụng các thé chế công dé kết nối, phối hợp và biểu đạt giá trị họ theo đuổi 7; ! Nguyễn Anh Phương (2015). Chính sách.
chính sách công và khoa học chính sách http://chinhsach.vn/chinh-sach-chinh-sach-cong-va-khoa-hoc-chinh-sach/ ?Lasswell, H 1951, The policy orientation, In Lerner & Lasswell (eds), The Policy Sciences, pp. 3-15, Stanford University Press. 3 Anderson, J 1994, Public policymaking, Princeton. 4 Dye, T 1972, Understanding public policy, Prentice-Hall > Klein R.
Reflections on policy analysis: putting it together again, The Oxford Handbook of Public Policy, 2008Toronto, Canada Oxford University Press. 5 Considine, M 1994, Public policy: A critical approach, Macmillan, Melbourne. 7 Considine, M 1994, Public policy: A critical approach, Macmillan, Melbourne. e Chính sách là quá trình mà một xã hội tạo ra và quyết định có tính bắt buộc những hành vi nào được chấp nhận và hành vi nào không Š: Từ khái niệm trên cho thấy, nội dung chính sách gồm có 03 yếu tố cấu thành chính là: Vấn đề thực tiễn cần giải quyết; định hướng, mục tiêu giải quyết vẫn đề và các giải pháp của Nhà nước để giải quyết vấn đề theo mục tiêu đã xác định.
Vấn đề thực tiễn cần giải quyết là một thực tế của xã hội đã và đang xảy ra, có ảnh hưởng, tác động theo chiều hướng tiêu cực đến đời sống, hoạt động của một hoặc một số nhóm đối tượng trong xã hội, tác động đến tổ chức, hoạt động của cơ quan nhà nước. Một vấn đề thực tiễn phải được giải quyết bằng chính sách, pháp luật khi van đề đó có nội dung và phạm vi tác động nhất định đến các đối tượng chịu ảnh hưởng về thời gian, không gian. Mục tiêu chính sách là mức độ giải quyết van đề thực tiễn mà Nhà nước mong muốn hướng tới theo lộ trình cụ thể được đặt ra trong khoảng thời gian ngăn hoặc lâu dài (mục tiêu ngăn hạn, mục tiêu dài hạn) nhằm hạn chế các tác động tiêu cực đối với các đối tượng chịu tác động hoặc chịu trách nhiệm tô chức thi hành chính sách, pháp luật. Một vấn đề có thể phát sinh do nhiều nguyên nhân gây ra và có thể tác động tiêu cực đến các đối tượng trên các khía cạnh khác nhau như kinh tế, xã hội, môi trường.
Do đó, mục tiêu chính sách trước tiên cần hướng tới giải quyết những nguyên nhân chính gây nên tác động tiêu cực chủ yếu cho các đối tượng. Giải pháp thực hiện chính sách là các phương án khác nhau để giải quyết van dé thực tiễn theo mục tiêu đã xác định. Giải pháp phải phù hợp, cân xứng với vấn đề về quy mô, phạm vị, đối tượng tác động, khắc phục được trúng và đúng các nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp gây ra van dé; đồng thời giải pháp phải hiệu quả nghĩa là đạt được mục tiêu đặt ra với chi phí hợp lý, khả thi đối với các đối tượng phải thực hiện, tuân thu. Khai niệm danh gia tác động chính sách Khái niệm đánh giá tác động chính sách được sử dụng xuất phát từ khái niệm mang tính công cụ đó là đánh giá tác động quy định (pháp luật).
Trong 8 Wheelan, C 2011, Introduction to Public Policy, New York 9 Bộ Tư pháp (2018), "Tai liệu hướng dan nghiệp vụ Đánh gia tác động chính sach", tr.9 giai đoạn tiền chính sách, việc đánh giá những tác động dự kiến dé chon lựa được chính sách tốt chính là thuật ngữ “đánh giá tác động chính sách”. Trong giai đoạn soạn thảo văn bản QPPL, công cụ này được gọi tên “đánh giá tác động quy định” hoặc “đánh giá tác động của dự thảo”. Đánh giá tác động quy dinh/phap luật (Regulation Impact Assessment - RIA) được áp dụng lần đầu tiên trên thế giới vào giữa thập niên 70 của thế kỷ XX tại Mỹ, dưới thời tông thống Ford, do có lo ngại về gánh nặng quy định pháp luật đè lên vai xã hội, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, cộng với lo ngại về sự gia tăng lạm phát. Đến nay, RIA đã được áp dụng ở đại đa số các quốc gia thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), RIA đã được sử dụng như một công cụ hữu hiệu nham bảo đảm chat lượng và tính hiệu quả của môi trưởng pháp lý.
Theo quan điểm của OECD, pháp luật là quá trình phân tích các tác động có thể của sự thay đổi về chính sách và đưa ra hàng loạt các lựa chọn đề thực hiện các chính sách đó. Trong hai năm qua, ít nhất 13 quốc gia đa dạng như Phần Lan, Việt Nam và Zambia đã tạo ra hoặc cải cách RIA thủ tục. Điều này ngày càng phổ biến, nhưng không phải là mới, quan tâm không phải ngẫu nhiên. Quy định chất lượng cao cho phép bền vững tăng trưởng, đầu tư, đổi mới và mở cửa thi trường (OECD 2015a).
Các quốc gia từ tất cả các cấp thu nhập cần các quy định hiệu qua dé hỗ trợ các quy định của pháp luật như là quy định kém quản trị làm hại lòng tin của công dân trong các tổ chức và khuyến khích tham nhũng trong lĩnh vực công cộng (OECD 2015a). Trong sự tôn trọng này, RIA cho phép các nhà sản xuất quy tắc cải thiện quy định quản trị bằng cách phát triển một khuôn khổ toàn diện trong các tùy chọn chính sách và quy định nào được đánh giá hiệu quả và minh bạch. Mặc dù giới thiệu RIA từ đầu không phải là một cam kết dễ dàng, nhiều quốc gia đã có những tác động tích cực ngay sau khi cải cách quy định của họ khuôn khổ.!9 Cách tiếp cận về RIA của các tác giả Việt Nam cũng có sự tương đồng với quan điểm trên. Cụ thé, theo tác giả Võ Thị Lan Hương, chuyên gia về RIA '0 Đoàn Thị Tố Uyên (2016) "Đánh giá tac động pháp luật trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Tap chí Luật hoc (5), tr.
đã đưa ra khái niệm về RIA: “Đánh giá tác động pháp luật là quá trình phân tích và đánh giá thông tin một cách hệ thống, qua đó xác định được rõ ràng, chính xác van dé bat cập cũng như giải pháp chính sách tốt nhất dé giải quyết van đề”. Ở Việt Nam, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, yêu cầu về đánh giá tác động pháp luật trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được quy định trong một đạo luật - đó là Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và đến nay được gọi tên là đánh giá tác động chính sách trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Đề hướng dẫn việc đánh giá tác động chính sách, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã quy định chỉ tiết về việc đánh giá tác động chính sách. Đánh giá tác động của chính sách (ĐŒGTĐCS) là việc phân tích, dự bao tác động của chính sách đang được xây dựng đối với các nhóm đổi tượng khác nhau nhằm lựa chọn giải pháp toi wu thực hiện chính sách!!.
Từ khái niệm trên cho thay ĐGTĐCS có thê hiểu là một quá trình phan tích, dự báo các tác động có thể của một sự thay đôi về chính sách. Đặc điểm của việc đánh giá tác động chính sách là tìm ra một giải pháp tối wu, giải pháp có thể đưa ra câu trả lời đáng tin cậy đối với các vấn đề mà thực tiễn điều hành chính sách đặt ra. Điều đó phải được làm một cách khan trương, hiệu quả, minh bạch và không tốn kém. Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, nội dung của từng chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) phải nêu rõ: vấn đề cần giải quyết; mục tiêu của chính sách; giải pháp dé thực hiện chính sách; tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; chi phí, lợi ich của các giải pháp; so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp; lựa chọn giải pháp của cơ quan, tổ chức và lý do của việc lựa chọn; thủ tục hành chính (TTHC) (nếu có); tác động về giới (nêu có)12.
Dé DGTDCS một cách toàn diện nhất thì cần phải đánh giá tác động về kinh tế, tác động về xã hội, tác động về giới (nếu có), tác động của TTHC 11 Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP 12 Khoản 2, Điều 35 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 10 (nếu có) và tác động đối với hệ thống pháp luật !3 bằng phương pháp định lượng và định tính '*. Các chủ thé DGTDCS theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 bao gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm xây dựng chính sách khi lập đề nghị xây dựng VBQPPL hay khi soạn thảo VBQPPL đồng thời chịu trách nhiệm DGTDCS. Đối với đề nghị xây dựng VBQPPL hoặc dự thảo VBQPPL do Chính phủ, Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh trình thì Chính phủ phân công cho các cán bộ, ngành; UBND phân công cho các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thực hiện việc xây dựng chính sách và ĐGTĐCS nhưng Chính phủ và UBND van là cơ quan có quyên hạn và chịu trách nhiệm về chính sách, DGTDCS trong dé nghị xây dựng VBQPPL và trong dự thảo VBQPPL.