Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về bệnh viện Cùng với thời gian, khái niệm về bệnh viện cũng có nhiều thay đổi. Trước đây, bệnh viện được coi là “nhà tế bần” cứu giúp những người nghèo khổ. Chúng được thành lập giống như những trung tâm từ thiện nuôi dưỡng người ổm yếu và người nghèo.
Ngày nay, bệnh viện được coi là nơi chẩn đoán và điều trị bệnh tật, nơi đào tạo và tiến hành các nghiên cứu y học, nơi xúc tiến các hoạt động chăm sóc sức khoẻ và ở mức độ nào đó là nơi trợ giúp các nghiên cứu y sinh học. Theo khái niệm của WHO, bệnh viện là một phần không thể thiếu của một tổ chức y tế xã hội, có chức năng cung cấp cho dân cư các dịch vụ chữa trị và phòng bệnh toàn diện, cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tại gia đình; bệnh viện cũng là trung tâm đào tạo các nhân viên y tể và trung tâm nghiên cứu y học[l 1], Hơn thể nữa, theo các tài liệu của WHO thì bệnh viện còn là một tổ chức phức tạp. Bởi lẽ, những tiến bộ trên nhiều mặt trong xã hội đã khiến người dân ý thức rõ hơn quyền lợi của mình. Họ ngày càng đòi hỏi cao hơn với hệ thống bệnh viện.
Họ muốn được cung cấp các dịch vụ y tế không chỉ trong khuôn khổ bệnh viện mà còn ở ngay tại gia đinh. Trong thời gian gần đây, bệnh viện được coi là một loại tổ chức xã hội chủ chốt trong cung cấp các dịch vụ chãm sóc sức khoẻ và đem lại nhiều lợi ích cho người bệnh và toàn xã hội. Đó là nơi chẩn đoán, chữa trị bệnh tật cũng như là nơi người Ốm dưỡng bệnh và phục hồi sức khoẻ[l 1], 1. Phân loại bệnh viện Phân chia theo mục tiêu phục vụ - Bệnh viện có mục tiêu phục vụ là các trung tâm nghiên cứu.
Các bệnh viện này được thành lập nhàm cung cấp môi trường học tập, giảng dạy cho các nhân viên y tế, có chức năng thực hiện giảng dạy và nghiên cứu bên cạnh chức nàng cung cấp dịch vụ y tế. Ví dụ, Viện y học hạt nhân, Viện chiến lược và chính sách Y tế, Viện Y học hạt nhân, Viện sốt rét KST-CT Quy Nhơn. - Bệnh viện đa khoa. Mục tiêu sổ một của các bệnh viện này là cung cấp các dịch vụ y tế, mục tiêu nghiên cứu chỉ xểp thử yếu.
5 - Bệnh viện chuyên khoa, được thành lập để phục vụ các mục đích nhất định. Các bệnh viện này cung cấp các dịch vụ chuyên sâu trong một vài lĩnh vực, thông thường các bệnh viện này chuyên về một bộ phận nhất định trong cơ thể người hoặc về một loại bệnh tật nào đó, ví dụ Bệnh viện mắt trung ương, Bệnh viện nội tiết. Phân chia theo chủ sở hữu: - Các bệnh viện công: các bệnh viện này do Nhà nước sở hữu, quản lý và kiểm soát - Các bệnh viện bán công: các bệnh viện bán công lại hoạt động như một cơ quan độc lập - Các trung tâm y tế tình nguyện: bệnh viện này chịu sự quản lý và kiểm soát của các tổ chức tình nguyện. - Các bệnh viện từ thiện của tư nhân: một số bệnh viện loại này chịu sự quản lý của các tổ chức từ thiện tư nhân.
Nhiều bệnh viện tư nhân lại hoạt động vì mục đích lợi nhuận[l 1], 1. Chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện Quyết định số 1895 ngày 19/9/1997 của Bộ Y tế đã quy định vị trí, chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện chuyên khoa hạng I như sau[13]: Bệnh viện chuyên khoa hạng I là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc Bộ Y tế hoặc trực thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các ngành; làm nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa bao gồm nhiều tỉnh, thành phố. Bệnh viện có đội ngũ cán bộ chuyên khoa sâu, có trình độ kỹ thuật cao, được trang bị hiện đại cơ sở hạ tầng phù hợp 1. Cấp cứu - Khám bệnh - Chữa bệnh Tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh thuộc phạm vi chuyên khoa của Bệnh viện để khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú.
Giải quyết các bệnh thuộc chuyên khoa bằng các phương tiện hiện có Tham gia khám giám định sức khoè và khám giám định pháp y khi hội đồng giám định y khoa trung ương hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trưng cầu. Đào tạo cán bộ Bệnh viện là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế chuyên khoa ở cấp Đại học và trên Đại học, đồng thời có trách nhiệm tham gia giảng dạy chuyên khoa ở bậc Đại học và trên đại học. Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong Bệnh viện và tuyến dưới để nâng cấp trình độ chuyên khoa. Nghiên cứu khoa học vềy học Tổ chức thực hiện đề tài nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộ khoa học về chuyên khoa ở cấp Nhà nước, cấp Bộ và cấp Cơ sở, chú trọng nghiên cứu y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại và các phương pháp chữa bệnh không dùng Nghiên cứu về dịch tễ học cộng đồng thuộc lĩnh vực chuyên khoa để phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu.
Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn, kỹ thuật. Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện việc chỉ đạo tuyến dưới phát triển kỹ thuật chuyên khoa để nâng cao chất lượng cấp cứu - chẩn đoán và điều trị chuyên khoa trong địa phương Kết hợp với các cơ sở y tế tuyến dưới thực hiện chương trình và kế hoạch chăm sóc sức khoẻ ban đầu trong địa phương. Phòng bệnh Phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng thường xuyên công tác phòng bệnh và phòng dịch. Hợp tác quốc tế Hợp tác với các tổ chức hoặc cá nhân ngoài nước theo quy định của Nhà nước.
Quản lý kinh tế Có kế hoạch sử dụng hiệu quả cao ngân sách Nhà nước cấp. Thực hiện nghiêm chinh các quy dịnh của Nhà nước về thu, chi ngân sách của Bệnh viện; từng bước thực hiện hạch toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Tạo thêm nguồn kinh phí từ các dịch vụ y tế: Viện phí, bảo hiểm y tế, đầu tư của nước ngoài và các tổ chức kinh tế khác. Chúc năng, nhiệm vụ, tổ chức của Khoa Khám bệnh 1.
Chức năng Khoa khám bệnh là một khoa chuyên môn kỹ thuật của Viện, có chức năng thực hiện các hoạt động trong công tác khám bệnh. Tổ chức và tiếp nhận bệnh nhân đến cấp cứu. Thực hiện việc khám bệnh và chọn lọc người bệnh vào điều trị nội trú. Thực hiện công tác khám, điều trị ngoại trú tại Viện.
Tham gia nghiên cứu khoa học, đào tạo, chỉ đạo tuyến. Triển khai áp dụng các kỹ thuật và công nghệ mới, tiên tiến trong khám và điều trị. Thống kê báo cảo số lượng, mô hình bệnh tật đến khám theo quy định. Hướng dẫn chăm sóc sức khoẻ ban đầu.
Tuyên truyền giáo dục phòng bệnh và giáo dục sức khoẻ với các hình thức thích hợp. Phối hợp với phòng y tế và các đơn vị có liên quan tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho cán bộ viên chức của Viện.Phối hợp với các đơn vị có liên quan trong công tác đi khám bệnh cho các tuyến, cơ quan, địa phương khi có nhu cầu. Thực hiện các nhiệm vụ khác được phân công. Tổ chức, biên chế, cơ chế hoạt động Tổ chức: Gồm các bộ phận 1.
Hành chính khoa. Tiếp đón ban đầu (thủ tục hành chính chuyên môn, thu tiền khám bệnh, phát phiếu, hướng dẫn đưa bệnh nhân đến các buồng khám và khoa điều trị). Biên chế: Theo quyết định của Viện trưởng và được điều chỉnh hàng năm theo nhu cầu công tác và đề xuất của trưởng khoa. Lãnh đạo khoa: 3.
Trưởng khoa 3. 1-2 Phó trưởng khoa 3. Trưởng khoa và phó trưởng khoa do Viện trưởng bổ nhiệm và miễn nhiệm. Trưởng khoa chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về mọi hoạt động của khoa.
Các phó trưởng khoa giúp việc trưởng khoa và chịu trách nhiệm trước trưởng khoa về nhiệm vụ được phân công. Nhân viên: Nhân viên của khoa là các bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý. làm việc theo chế độ chuyên môn kỹ thuật và chịu trách nhiệm trước Lãnh đạo khoa về công việc được giao. Khái niệm dịch vụ a.
Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cẩp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu. Trên góc độ hàng hóa, dịch vụ là hàng hóa vô tình mang lại chuồi giá trị thoà mãn nhu cầu nào đó của thị trường. Quan niệm này cho rằng mỗi loại dịch vụ 8 mang lại cho khách hàng một giá trị nào đỏ. Như vậy giá trị ở đây là thoả mãn nhu cầu mong đợi của khách hàng và những giá trị của hệ thống dịch vụ được gọi là chuỗi giá trị[17] Ở nhiều nước, ngành dịch vụ được chia thành 3 nhóm: - Các dịch vụ kinh doanh: gồm vận tải, thông tin liên lạc, tài chính, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản, các dịch vụ nghề nghiệp.
- Các dịch vụ tiêu dùng: gồm các hoạt động bán buôn, bán lẻ, du lịch, các dịch vụ cá nhân (như y tế, giáo dục, thể dục thể thao). - Các dịch vụ công: gồm các dịch vụ hành chính công, các hoạt động đoàn thể. Khái niệm chất lượng dịch vụ và tầm quan trọng của việc đánh giá chất lượng dịch vụ Hiện nay, chất lượng dịch vụ ngày càng được xác định là có vai trò then chốt trong việc so sánh giữa CSYT này với CSYT khác và để tạo dựng được những lợi thế cạnh tranh. Những người bệnh khi phải chịu chi phí cao cho các DVYT thì ngày càng có những đòi hỏi, yêu cầu cao hơn về chất lượng dịch vụ cung cấp từ phía CBYT, bệnh viện [15].
Do đó việc nâng cao chất lượng các dịch vụ CSSK được các nhà quản lý ngày càng quan tâm, tuy nhiên làm thế nào để chất lượng dịch vụ cung cấp đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao và phong phú của người sử dụng lại là một vấn đề không dễ. Trong các bệnh viện, chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ người bệnh quyết định sự tồn tại của bệnh viện đó. Người dân sẽ không đến các bệnh viện khi họ không hài lòng bởi những dịch vụ CSSK được cung cấp kém chất lưạng[19] Có rất nhiều các khái niệm khác nhau về chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, việc chấp nhận và ứng dụng khái niệm nào là tuỳ thuộc vào môi trường làm việc của các nhà quản lý cơ sở y tế.