Chương 1: Cơ sở lý luận về sự hài lòng của hành khách sử dụng dịch vụ vận tải Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh của các mác tàu SP trên tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai Chương 3: Đánh giá sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ vận tải hành khách mác tàu SP trên tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA HÀNH KHÁCH SỬ DỤNG DỊCH VỤ VẬN TẢI 1. Tổng quan về dịch vụ và chất lƣợng dịch vụ vận tải 1. Khái quát về dịch vụ 1. Khái niệm dịch vụ Theo Kotler và Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố, mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng.
Philip Kotler và Keller (2006) định nghĩa: “Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”. Theo Zeithaml và Bitner (2000): Dịch vụ là những hành vi, cách thức, quá trình thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thoả mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Theo Các Mác: “Dịch vụ là hàng hóa cũng như các loại hàng hóa khác, có giá trị và giá trị sử dụng”.
Dịch vụ có thể định nghĩa một cách tổng quát như sau: “Dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới hình thái vật thể nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận lợi, hiệu quả hơn các nhu cầu trong sản xuất và đời sống của con người”. Như vậy có thể thấy dịch vụ là hoạt động sáng tạo của con người, là hoạt động có tính đặc thù riêng của con người trong xã hội phát triển, có sự cạnh tranh cao, có yếu tố bùng phát về công nghệ, minh bạch về pháp luật, minh bạch chính sách của chính quyền. Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ có 05 đặc điểm đặc trưng là tính vô hình, tính không đồng đều về chất lượng, tính không thể tách rời, tính không thể lưu giữ được và tính không chuyển quyền sở hữu được. Tính vô hình: Hàng hoá có hình dáng, kích thước, màu sắc và thậm chí cả mùi vị.
Khách hàng có thể tự xem xét, đánh giá xem nó có phù hợp với nhu cầu của mình không. Ngược lại, dịch vụ mang tính vô hình, làm cho các giác quan của khách hàng không nhận biết được trước khi mua dịch vụ. Đây chính là một khó khăn lớn khi bán một dịch vụ so với khi bán một hàng hoá hữu hình, vì khách hàng khó thử dịch vụ trước khi mua, khó cảm nhận được chất lượng, khó lựa chọn dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ khó quảng cáo về dịch vụ. Do vậy, dịch vụ khó bán hơn hàng hoá.
Tính không đồng đều về chất lượng Dịch vụ không thể được cung cấp hàng loạt, tập trung như sản xuất hàng hoá. Do vậy, nhà cung cấp khó kiểm tra chất lượng theo một tiêu chuẩn thống nhất. Mặt khác, sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ lại chịu tác động mạnh bởi kỹ năng, thái độ của người cung cấp dịch vụ. Sức khoẻ, sự nhiệt tình của nhân viên cung cấp dịch vụ vào buổi sáng và buổi chiều có thể khác nhau.
Do vậy, khó có thể đạt được sự đồng đều về chất lượng dịch vụ ngay trong một ngày. Dịch vụ càng nhiều người phục vụ thì càng khó đảm bảo tính đồng đều về chất lượng. Để khắc phục nhược điểm này, doanh nghiệp có thể thực hiện cơ giới hoá, tự động hoá trong khâu cung cấp dịch vụ, đồng thời có chính sách quản lý nhân sự đặc thù đối với các nhân viên cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, không phải bất kỳ dịch vụ nào cũng có thể tự động hoá quá trình cung cấp được.
Tính không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ Hàng hoá được sản xuất tập trung tại một nơi, rồi vận tải đến nơi có nhu cầu. Khi ra khỏi dây chuyền sản xuất thì hàng hóa đã hoàn chỉnh. Do đó, nhà sản xuất có thể đạt được tính kinh tế theo quy mô do sản xuất tập trung, hàng loạt, và quản lý chất lượng sản phẩm tập trung. Nhà sản xuất cũng có thể sản xuất khi nào thuận tiện, rồi cất trữ vào kho và đem bán khi có nhu cầu.
Do vậy, họ dễ thực hiện cân đối cung cầu. Nhưng quá trình cung cấp dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời. Người cung cấp dịch vụ và khách hàng phải tiếp xúc với nhau để cung cấp và tiêu dùng dịch vụ tại các địa điểm và thời gian phù hợp cho hai bên. Đối với một số các dịch vụ, khách hàng phải có mặt trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ.
Tính không dự trữ được Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp. Do vậy, dịch vụ không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi thị trường có nhu cầu thì đem ra bán. Đặc tính này sẽ ảnh hưởng đến các chính sách của Marketing dịch vụ như chính sách giá cước thay đổi theo thời gian, mùa vụ, chính sách dự báo nhu cầu, kế hoạch bố trí nhân lực. Tính không chuyển quyền sở hữu được Khi mua một hàng hoá, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu hàng hoá mình đã mua.
Khi mua dịch vụ thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng dịch vụ, được hưởng lợi ích mà dịch vụ mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi. Đặc tính này ảnh hưởng đến chính sách phân phối trong Marketing dịch vụ, trong đó người bán buôn, bán lẻ cũng không được chuyển quyền sở hữu. Họ đơn thuần chỉ là người tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ. Và tất nhiên, họ có ảnh hưởng đến chất 5 lượng dịch vụ.
Như vậy, vấn đề huấn luyện, hỗ trợ, tư vấn, kiểm tra đánh giá các trung gian phân phối là yếu tố cần thiết để đảm bảo chất lượng dịch vụ. Phân loại dịch vụ a. Phân loại theo phương pháp loại trừ Dịch vụ là một bộ phận của nền kinh tế ngoài công nghiệp sản xuất hàng hóa hiện hữu, nông nghiệp và khai khoáng. Dịch vụ bao gồm các loại sau: - Thương mại (bán buôn, bán lẻ) - Vận chuyển, phân phối, lưu kho - Ngân hàng, bảo hiểm - Kinh doanh bất động sản ….
Phân loại theo mức độ sức lao động và mức độ tương tác khách hàng Hoạt động dịch vụ luôn có sự liên hệ với khách hàng song mức độ rất khác nhau. Có loại người cung ứng phải thường xuyên liên lạc với khách hàng, thu nhận thông tin để thực hiện dịch vụ. Ngược lại có loại liên hệ thấp, dịch vụ được thực hiện không có thông tin phản hồi. Phân loại dịch vụ theo mức độ sức lao động và mức độ tương tác khách hàng Mức độ tƣơng tác khách hàng Cao Thấp Pháp luật Giáo dục Cao Bác sĩ Bán lẻ Người làm dịch vụ du lịch Các sản phẩm dịch vụ đại trà Mức độ sử Dịch vụ lau dọn Bệnh viện dụng sức lao Thức ăn nhanh Sửa chữa tự động động Thấp Vận tải Nhà nghỉ sang trọng Nghỉ trọ bình dân Du ngoạn đường biển Vui chơi giải trí.
Schmanner đăng trên Sloan Management, 1986) Mức độ sử dụng lao động là tỉ lệ chi phí lao động trên giá trị nhà xưởng và trang thiết bị. Mức độ tương tác khách hàng là mức mà khách hàng tương tác với quá trình dịch vụ. Phân loại theo đối tượng trực tiếp của dịch vụ 6 Bảng 1. Phân loại dịch vụ căn cứ vào đối tượng trực tiếp của dịch vụ Các dịch vụ dành cho Con người Vật thể Vận chuyển Vận tải Nghỉ trọ Các dịch vụ lau dọn Nhà hàng và cung cấp thực phẩm Giáo dục Ngân hàng Truyền thanh Bảo hiểm Dịch vụ du lịch Luật pháp Vui chơi giải trí (Theo Christopher H.
Lovelock đăng trên Journal of Marketing, 1983) d. Phân loại theo lĩnh vực phục vụ Dịch vụ có tính chất sản xuất (dịch vụ gần với sản xuất trực tiếp): Dịch vụ vận tải, bưu điện, dịch vụ ăn uống, dịch vụ sửa chữa tư liệu sản xuất… Dịch vụ không có tính chất sản xuất (dịch vụ phi vật thể): Dịch vụ về giáo dục, đào tạo, y tế, giải trí,… nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của cuộc sống con người. Phân loại theo đối tượng phục vụ Dịch vụ có tính chất xã hội (hay dịch vụ công cộng): Đáp ứng nhu cầu đời sống cộng đồng như dịch vụ giải trí ở công viên, dịch vụ du lịch… Dịch vụ có tính chất cá nhân (hay dịch vụ sinh hoạt cá nhân): Là những dịch vụ phục vụ đời sống vật chất, văn hóa thẩm mỹ tình cảm của con người. Sản phẩm của dịch vụ này tuy được thông qua trao đổi, song đều thuộc quyền sở hữu cá nhân của người tiêu dùng.
Khái quát về chất lượng dịch vụ vận tải 1. Khái niệm chất lượng Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO, trong DIS 9000:2000 đã đưa ra định nghĩa: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm hệ thống hay quá trình để đáp ứng yêu cầu của khách hàng và các bên liên quan”. Tổ chức quản lý chất lượng của Châu Âu (The European Organization for Quality) lại cho rằng:“Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng” Theo tổ chức kiểm soát chất lượng Châu Âu: “Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng”.Crosby:“Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu” Theo Bill Conway: “Chất lượng phụ thuộc vào cách thức quản lý đúng đắn. Muốn đạt được chất lượng cần cải tiến chất lượng ở tất cả các khâu của quy trình”.
7 Theo Giáo sư Kaoru Ishikawa: “Chất lượng là khả năng thỏa mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất”. Theo từ điển Oxford: “Chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản”. Theo các nhà quản lý: “Chất lượng cao hay thấp được đo bằng tỷ lệ các sản phẩm, được chấp nhận qua kiểm tra chất lượng (KCS), số lượng phế phẩm…” Theo tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan”.