CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ MẶT ĐẤT TẠI SÂN BAY 1.1 Khái niệm và đặc điểm dịch vụ mặt đất tại sân bay 1.1 Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong lĩnh vực marketing và kinh doanh. Hiện nay, có nhiều cách định nghĩa về dịch vụ, theo Luật giá năm 2013: Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật. Một vài chuyên gia định nghịa dịch vụ như sau: Theo Valarie A Zeithaml và Mary J Bitner (2000) thì “dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng” Theo Gronroos (1990), dẫn theo Paul Lawrence Miner (1998) thì “Dịch vụ là một hoạt động hoặc là một chuỗi hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình thường, nhưng không cần thiết, diễn ra trong các mối tương tác giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ và/hoặc các nguồn lực vật chất hoặ hàng hóa và/hoặc các hệ thống cung ứng dịch vụ được cung cấp như là các giải pháp giải quyết các vấn đề của khách hàng” Theo học giả Bùi Nguyên Hùng (2004) thì “Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động phía trước, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau.
Mục đích của tương tác này là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cácch khách hàng mong đợi, cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng” 1.2 Đặc điểm dịch vụ Dịch vụ là một “sản phẩm đặc biệt” có nhiều đặc tính khác với các loại hàng 9 hóa khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ. Chính những đặc tính này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường được. Tính không mất đi Kỹ năng dịch vụ không mất đi sau khi đã cung ứng. Người ca sĩ không hề mất đi giọng hát sau một buổi trình diễn thành công, sau một ca phẫu thuật thành công, bác sĩ không hề mất đi khả năng kỹ thuật của mình.
Tính dị biệt Dịch vụ được thực hiện sẽ khác nhau trong mỗi loại hình khác nhau, như dịch vụ cung cấp trong lĩnh vực du lịch khác trong lĩnh vực thư viện. Tính vô hình hay phi vật chất Dịch vụ chỉ có thể nhận thức được bằng tư duy hay giác quan chứ ta không thể "sờ mó" sản phẩm dịch vụ được, dịch vụ cũng không thể đo lường được bằng các phương pháp đo lường thông thường về thể tích, trọng lượng. Bệnh nhân không thể biết trước kết quả khám bệnh trước khi đi khám bệnh, khách du lịch không biết trước tác động của những dịch vụ được cung cấp trước khi chúng được cung ứng và tiếp nhận. Shostack (1977, dẫn theo Paul Lawrence Miner, 1998) cho rằng không có sự vật/việc đơn thuần là sản phẩm hay dịch vụ vô hình.
Zeithaml and Leonard L. Berry (1985) cũng bình luận rằng tính vô hình có nghĩa là “Hầu hết các dịch vụ không thể đo, đếm, thống kê, thử nghiệm và chứng nhận trước khicung cấp để đảm bảo chất lượng dịch vụ”. Một hình thức tồn tại đặc biệt của dịch vụ ngày càng phổ biến đó là thông tin, đặc biệt trong những ngành dịch vụ mang tính hiện đại như tư vấn, pháp lý, dịch vụ nghe nhìn, viễn thông, máy tính.Quá trình sản xuất và tiêu thụ gằn với các hoạt động dịch vụ này có thể diễn ra không đồng thời như thường thấy ở những dịch vụ thông thường khác như phân phối, y tế, vận tải hay du lịch.mà vốn đòi hỏi sự tiếp xúc trực tiếp giữa người cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng. Tính không thể phân chia 10 Quá trình sản xuất và tiêu thụ dịch vụ diễn ra đồng thời.
Khác với sản xuất vật chất, sản xuất dịch vụ không thể làm sẵn để lưu kho sau đó mới đem tiêu thụ. Dịch vụ không thể tách rời khõi nguồn gốc của nó, trong khi hàng hóa vật chất tồn tại không phụ thuộc vào sự có mặt hay vắng mặt nguồ gốc của nó. Tính không ổn định và khó xác định được chất lượng Chất lượng dịch vụ thường dao động trong biên độ rất rộng, tùy vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ (ví dụ như người cung ứng, thời gian, địa điểm cung ứng dịch vụ). Tính không lưu giữ được Dịch vụ không thể lưu giữ được.
Không thể mua vé xem bóng đá trận này để xem trận khác được. Tính không lưu giữ được của dịch vụ không phải là vấn đề quá lớn nếu như cầu cầu là ổn định và có thể dự đoán truớc. Nhưng thực tiễn nhu cầu dịch vụ thường không ổn định, luôn dao động thì công ty cung ứng dịch vụ sẽ gặp những vấn đề trở ngại về vấn đề sử dụng nhân lực và cơ sở vật chất kỹ thuật.2 Dịch vụ mặt đất tại sân bay Dịch vụ mặt đất là các dịch vụ được thực hiện cho khách hàng, trong dịch vụ mặt đất bao gồm cả việc phục vụ hành lý, hàng hóa và máy bay khi máy bay đang ở trên mặt đất và đậu trong khu vực sân đỗ Dịch vụ mặt đất là một quá trình trong dịch vụ hàng không và là một bộ phận không thể thiếu được của một sân bay. Nó bao gồm tất cả các hoạt động vận hành máy móc và con người phục vụ cho máy bay khi đang ở dưới mặt đất và nó phải tuân thủ các yêu cầu trong khai thác hàng không.
Dịch vụ này ra đời nhằm đáp ứng tốt các yêu cầu trước khi lên máy bay của hành khách và mang lại lợi ích tốt nhất cho họ. Tại mỗi sân bay đều có một dịch vụ mặt đất riêng của sân bay đó. Chức năng chính của dịch vụ mặt đất là cung ứng các dịch vụ kỹ thuật và thương mại cho các máy bay nhằm tạo một dây chuyền vận chuyển đồng bộ giữa các đối tượng vận tải hàng không, các đối tượng khách hàng. Dịch vụ mặt đất là dịch vụ bao gồm các công việc mà hành khách đến sân bay đều được thấy và đã từng được tiếp xúc qua.
Ngoài ra để phục vụ hành khách đi và đến các sân bay không trực tiếp nhìn thấy 11 được. Nhờ những đóng góp âm thầm của những bộ phận này đã tạo nên thành công trong dây chuyền phục vụ mặt đất cho các hãng hàng không 1.3 Phân loại dịch vụ mặt đất tại sân bay 1.1 Dịch vụ làm thủ tục bay Chuẩn bị làm thủ tục bay - Đối với dịch vụ phục vụ hành khách, công tác chuẩn bị trước chuyến bay là yếu tố hết sức quan trọng, cần thiết. Việc chuẩn bị, xử lý bước đầu thông tin, yêu cầu liên quan đến hành khách đóng góp vai trò rất lớn cho quá trình làm hài lòng khách hàng. Quá trình chuân bị trước chuyến bay cần thực hiện được những yêu cầu cơ bản như sau: ■ Lập kế hoạch phục vụ ■ Nhận thông tin lịch bay ngày, thông tin các chuvến bay có yêu cầu phục vụ đặc biệt được triển khai ■ Cập nhật các thông tin đặc biệt liên quan đến chuyến bay (ví dụ: giờ bay, danh sách VIP .) ■ Xác định số lượng nhân sự cần thiết phục vụ ■ Kiếm tra các vật phẩm được sử dụng cho việc phục vụ - Kiếm tra để đảm báo các phương tiện làm thủ tục hoạt động tốt, sẵn sàng trước khi mở quầy làm thủ tục cho hành khách.
Kiếm tra thiết bị đầu cuối, máy in thẻ lên tàu, thẻ hành lý (nếu có). Chuẩn bị các loại thẻ phụ trợ như thẻ lên máy bay, các loại thẻ hành lý, nhãn “transit” và các loại nhãn khác (nếu cần), tờ thông tin đặc biệt cho tổ bay - Nhận thông tin trong các cuộc họp ngắn (briefing) từ đại diện Hãng hàng không (nếu có). - Mở quầy làm thủ tục trước một khoảng thời gian so với giờ khới hành của chuyến bay (tùy theo yêu cầu của mỗi Hãng hàng không) Quá trình làm thủ tục bay 12 - Mở quầy thủ tục: bật màn hình FID về thông tin chuyến bay cần làm thủ tục, kiểm tra lại các thông tin về giờ bay, số hiệu chuyến bay, điểm đến của chuyến bay. - Phát thanh mời khách vào làm thủ tục theo Quy định.
- Quá trình làm thủ tục cho hành khách được thực hiện qua các bước như sau: ■ Khi khách vào quầy làm thủ tục, thủ tục viên vui vẻ, niềm nở chào khách. ■ Đề nghị khách xuất trình vé, kiểm tra vé đảm bảo khách đi đúng chuyến, đúng ngày đãng ký. ■ Hướng dẫn hành khách chuẩn bị sẵn vé, hộ chiếu, thị thực ra ngoài để giúp thủ tục viên rút ngắn thời gian khi đứng trước quầy khách phải tìm kiếm những giấy tờ cần thiết. ■ Kiếm tra tình trạng hành lý: Các thùng bằng gỗ phải đi bọc các đầu cạnh để tránh gây xước băng chuyền, nguy hiểm cho nhân viên khi tiếp xúc, gỡ các thẻ hành lý cũ đã sử dụng, đề nghị khách đóng gói lại những hành lý ký gửi không đúng quy cách.
■ Phát nhãn gắn vào hành lý xách tay (name label) cho khách (Tùy vào yêu cầu của từng Hãng hàng không) ■ Quan sát, nhận biết các trường hợp hành khách mang thai, hành khách lớn tuổi, trẻ em hoặc hành khách sử dụng xe lăn (WCH), khách cần sự giúp đỡ đặc biệt. - Kiểm tra lộ trình và số hiệu chuyến bay trên vé của khách để tiện việc kiểm tra giấy tờ du lịch. Kiếm tra giấy tờ du lịch : ■ Đối với chuyến bay quốc tế o Kiếm tra hộ chiếu: Xem xét không có dấu hiệu giả mạo như tẩy xóa, rách rời v., đối chiếu hình ảnh trên hộ chiếu với hành khách làm thủ tục; kiểm tra quốc gia cấp hộ chiếu, hiệu lực của hộ chiếu và tên khách trên hộ chiếu. o Kiểm tra Visa: • Quốc gia cấp visa • Hiệu lực của visa (thời hạn và số lần sử dụng) 13 • Thời gian khách được lưu trú • Visa không bị tấy xóa hoặc rách rời • Đối chiếu hình ảnh trên visa (nếu có) với hành khách làm thủ tục • Đối chiếu ngày, tháng, năm sinh trên Visa và trên hộ chiếu ■ Đối với chuyến bay quốc nội o Giấy chứng minh nhân dân và các loại giấy tờ hợp lệ khác như: Giấy phép lái xe, thẻ học sinh, thẻ sinh viên, thẻ ngành, thẻ nhà báo, hộ chiếu v.
o Giấy khai sinh của trẻ em.