MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là cơ sở của sản xuất nông nghiệp, là đối tượng lao động độc đáo, đồng thời cũng là môi trường sản xuất ra lương thực, thực phẩm với giá thành thấp nhất, là một nhân tố quan trọng của môi trường sống và trong nhiều trường hợp lại chi phối sự phát triển hay huỷ diệt các nhân tố khác của môi trường. Chính vì vậy sử dụng đất hợp lý là một phần hợp thành của chiến lược nông nghiệp sinh thái bền vững của tất cả các nước trên thế giới cũng như của nước ta hiện nay. Hiện nay, trên thế giới, tổng diện tích đất tự nhiên là 148 triệu km 2.
Những loại đất tốt thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,6%. Diện tích đất trồng trọt chỉ chiếm khoảng 10% tổng diện tích tự nhiên. Đất đai trên thế giới phân bố không đều giữa các châu lục và các nước (châu Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6%). Bước vào thế kỷ XXI với những thách thức về an ninh lương thực, dân số, môi trường sinh thái thì nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất lương thực, thực phẩm cơ bản đối với loài người.
Nhu cầu của con người ngày càng tăng đã gây sức ép nặng nề lên đất, đặc biệt là đất nông nghiệp. Đất nông nghiệp bị suy thoái, biến chất và ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng nông sản. Vì vậy, tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất hợp lý, có hiệu quả cao theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính toàn cầu. Những năm gần đây ở Việt Nam đã hình thành những vùng sản xuất tập trung với khối lượng nông sản hàng hoá lớn và mang tính kinh doanh rõ rệt: lúa gạo và rau quả thực phẩm vùng đồng bằng sông Hồng; lúa gạo và rau quả thực phẩm, thuỷ hải sản ở vùng đồng bằng sông Cửu Long; cà phê, cao su ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.
Trong cả nước đã xuất hiện hàng chục vạn trang trại gia đình và hàng triệu hộ kinh doanh tiểu điền mà ở đó lượng nông sản hàng hoá chiếm tỷ trọng lớn, tính chất sản xuất kinh doanh nông nghiệp hàng hoá nông nghiệp ngày càng thể hiện rõ nét. Tuy nhiên, xét trên tổng thể 2 nền nông nghiệp nước ta vẫn đang trong tình trạng của sản xuất hàng hoá nhỏ, manh mún và lạc hậu. Bích sơn là một xã nông nghiệp nằm ở phía Tây của huyện Việt Yên, có diện tích tự nhiên 820.17 ha, chiếm 3,89% diện tích tự nhiên của huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Bích Sơn với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nguồn tài nguyên đất đai màu mỡ cùng với sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp - nông thôn, các mô hình kinh tế trang trại được hình thành và phát triển bước đầu có hiệu quả triển vọng.
Vì vậy, việc quản lý Nhà nước về đất đai một cách hợp lý có hiệu quả là rất cần thiết được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, sự phân công của Ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của Thầy giáo PGS. Nguyễn Khắc Thái Sơn tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:” Đánh giá công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn xã Bích Sơn- huyện Việt Yên- tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2008-2010”. Mục đích của đề tài * Đánh giá công tác quản lý Nhà nước về đất đai của xã Bích Sơn- huyện Việt Yên- tỉnh Bắc Giang. Phân tích và tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai.
Trên cơ sở kết quả của những mục tiêu đạt được, tìm ra những giải pháp phù hợp với thực tiễn quản lý Nhà nước về đất đai của xã Bích Sơn- huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Yêu cầu của đề tài - Nắm vững những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai cùng với các văn bản pháp luật hướng dẫn việc thi hành pháp luật về đất đai. - Thu thập các số liệu về công tác quản lý đất đai để so sánh với quy định của pháp luật. - Những đề xuất có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn của địa phương.
Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa học tập: Nghiên cứu đề tài là cơ hội tiếp để sinh viên tiếp cận với công việc thực tế, đồng thời củng cố thêm phần lý thuyết đã được học. - Ý nghĩa thực tiễn: Trang bị cho sinh viên khi ra trường có kiến thức áp dụng vào thực tiễn phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai được tốt hơn. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Những vấn đề về đất đai 2.1 Khái niệm về đất - Theo VV.Docutraiep (1846 - 1903): Đất trên bề mặt lục địa là một vật thể thiên nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp cực kỳ phức tạp của 5 yếu tố: Sinh vật, đá mẹ, địa hình, khớ hậu và tuổi thọ địa phương.
- Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt, cùng với khoáng sản và nước ngầm trong lũng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người và các kết quả của con người trong qúa khứ và hiện tại để lại.2 Phân loại đất đai Theo sự thống nhất về quản lý và sử dụng đất của Luật đất đai 2008, đất đai nước ta được phân loại theo các nhóm sau: - Nhóm đất nông nghiệp bao gồm: Đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác. - Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm: Đất ở (gồm đất ở tại nông thôn và đất ở tại đô thị), đất chuyên dùng (gồm đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trỡnh sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng), đất tôn giáo tín ngưỡng, đất nghĩa trang nghĩa địa, đất sông ngòi, kênh rạch, suối và mặt nước, đất phi nông nghiệp khác. - Nhóm đất chưa sử dụng bao gồm: Đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng, núi đá không có rừng cây.3 Vai trò của đất đai Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện trước con người và tồn tại ngoài ý muốn của con người. Đất được tồn tại như một vật thể tự nhiên.
Nếu đất tách rời sản xuất (tách rời con người) thì đất được tồn tại như một vật thể 4 tự nhiên. Như vậy đất là tư liệu sản xuất. Còn nếu đất gắn liền với sản xuất, nghĩa là gắn liền vời con người, gắn với lao động thì đất được coi là tư liệu. Đất đai chỉ khi tham gia vào quá trình lao động, khi kết hợp với lao động sống và lao động quá khứ thì đất mới trở thành một tư liệu sản xuất.
Không phụ thuộc vào hình thái kinh tế xã hội, để thực hiện quá trình lao động, cần phải có đủ 3 yếu tố: hoạt động hữu ích, đối tượng lao động, tư liệu lao động. Như vậy, quá trình lao động chỉ có thể bắt đầu và hoàn thiện được khi có con người và điều kiện vật chất. Đất đai là điều kiện vật chất chung nhất với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động vừa là phương tiện lao động, vì vậy đất đai là “tư liệu sản xuất”. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt thể hiện như sau: (Lương Văn Hinh và CS,2008) 1.
Đặc điểm tạo thành: Đất đai xuất hiện và tồn tại ngoài ý muốn của con người. Con người chỉ tham gia vào hoạt động của xã hội, dưới tác động của lao động, đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất. Hạn chế về số lượng: Diện tích đất bị giới hạn bởi biển trên mặt địa cầu, các tư liệu sản xuất khác có thể tăng về số lượng, chế tạo tuỳ theo nhu cầu của xã hội. Tính không đồng chất: Đất đai không đồng nhất về số lượng, hàm lượng chất dinh dưỡng, các tính chất lý, hoá.
Các tư liệu sản xuất khác có thể đồng nhất về số lượng, quy cách, tiêu chuẩn. Tính không thay thế: đất đai không thể thay thế bằng các tư liệu sản xuất khác. Tính cố định vị trí: Đất đai hoàn toàn cố định, về vị trí con người không thể di chuyển theo ý muốn của mình được. Tính vĩnh cửu: Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cữu, nếu biết sử dụng hợp lý, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp đất sẻ không bị hư hỏng, ngược lại có thể tăng tính sản xuất cũng như hiệu quả sử dụng đất.
Quản lý Nhà nước về đất đai 2. Khái niệm Quản lý Nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để bảo vệ quyền sở hữu Nhà nước về đất đai, cũng 5 như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất thông qua 13 nội dung quy định tại điều 6 Luật đất đai 2008. Nhà nước đó nghiên cứu toàn bộ quỹ đất của từng vùng từng địa phương dựa trên cơ sở các đơn vị hành chính để nắm chắc hơn về cả số lượng và chất lượng. Đưa ra các phương án về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để phân bổ hợp lý nguồn tài nguyên đất đai.
Đảm bảo đất được giao đúng đối tượng, sử dụng đúng mục đích, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch, sử dụng có hiệu quả ở hiện tại và bền vững trong tương lai, tránh hiện tượng phân tán đất và đất bị bỏ hoang hóa. Vai trò quản lý của Nhà nước về đất đai Quản lý Nhà nước về đất đai có vai trò rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế, xã hội, và đời sống nhân dân. Cụ thể là: - Thông qua hoạch định chiến lược, quy hoạch, lập kế hoạch phân bổ đất đai có cơ sở khoa học nhằm phục vụ cho mục đích kinh tế, xó hội của đất nước; bảo đảm sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, đạt hiệu quả cao. Giúp cho Nhà nước quản lý chặt chẽ đất đai, giúp cho người sử dụng đất có các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ và sử dụng đất đai có hiệu quả.