Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI 1. Nhận thức chungquản lý nhà nước về đất đai 1. Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai Theo FAO (1976) trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái [34]. Với khái niệm này, đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất.
Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: Khí hậu; dáng đất, địa hình; Thổ nhưỡng; Thủy văn; Thảm thực vật tự nhiên; Cỏ dại trên đồng ruộng; Động vật tự nhiên; Những biến đổi của đất do hoạt động của con người. Theo Đoàn Công Quỳ và các cộng sự “Đất đai như là một khu vực hay một nhất thể không gian từ một thửa đất đến một đất nước cho đến cả hành tinh”; “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất,bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó: bao gồm khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, nước mặt (hồ, sông, nước ngầm), tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả do hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại để lại sau nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa. Quản lý là một tất yếu khách quan là sự tác động có chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vị hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật đạt tới mục đích đề ra và đúng ý chí của người quản lý. Mỗi Nhà nước luon gắn với một thiết chế xã hội nhất định theo phạm vi không gian và thời gian, do vậy đặc tính quản lý nhà nước sẽ thay đổi tùy theo bản chất của chế độ chính trị và trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia trong từng thời ký.
So với hoạt động của các chủ thể khác trong xã hội, quản lý nhà nước có đặc điểm khác biệt đó là: 9 Luan van Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan Nhà nước và cán bộ, công chức có thẩm quyền trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao. Những chủ thể này tham gia vào quá trình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước về lập pháp và hành pháp theo Luật định. Đối tượng quản lý nhà nước bao gồm tất cả các tổ chức, cá nhân sinh sống và hoạt động sản xuất kinh tế, văn hóa – xã hội trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; các nguồn tài nguyên thiên nhiên và xã hội được khai thác sử dụng vào quá trình cung cấp các sản phẩm theo nhu cầu xã hội. Quản lý nhà nước có tính toàn diện, bao gồm các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; các nguồn tài nguyên thiên nhiên và xã hội được khai thác sử dụng vào quá trình cung cấp các sản phẩm theo nhu cầu xã hội.
Quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật, chính sách, kế hoạch để quản lý xã hội. Mục tiêu quản lý nhà nước là bảo đảm, bảo vệ sự ổn định và phát triển xã hội bền vững, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Tử những đặc tính trên, có thể khải quát như: Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt và chủ yếu nhất, là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước, được Nhà nước sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, các hành vi của cá nhân, tổ chức, có sức mạnh và hiệu lực do cơ quan Nhà nước, công chức trong bộ máy Nhà nước thực hiện nhằm phục vụ công, duy trì sự ổn định và phát triển bền vững xã hội. Quản lý nhà nước về đất đai là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các nội dung quản lý đất đai theo quy định của pháp luật nhằm để bảo vệ quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai và đảm bảo hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên quốc gia.
Đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất, phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất, điều tiết các nguồn lợi về đất đai. 10 Luan van Ở Việt Nam, từ những năm đầu thập ký 80, Nhà nước đã xây dựng một hệ thống chính sách về đất đai phù hợp với tình hình đất nước, thể hiện chính sách thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất, đồng thời thực hiện công tác đô đạc phân hạn đất và đăng ký thống kê đất đai trong cả nước. Ngày 18/12/1980 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Hiến pháp sửa đổi quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng ven biển và thềm lục địa. đều thuộc sử hữu toàn dân và Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung” [16,tr.
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để thực thi công tác quản lý đất đai trên phạm vi cả nước. Ngày 19/12/1987, Quốc hội chính thức thông qua Luật đất đai năm 1987 về giao đất cho hộ gia đình sử dụng đất ổn định lâu dài là dấu mốc có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của công tác quản lý sử dụng đất đai trong giai đoạn xây dựng đổi mới đất nước. Hiến pháp 1992 ra đời đánh dấu điểm khởi đầu của công cuộc đổi mới chính trị. Tại điều 17 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo hiến pháp và pháp luật” [16,tr.5] Tiếp đến Luật đất đai được sừa đổi ban hành vào năm 1993 và năm 2003 Năm 2013, Quốc hội đã thông qua, bà hành Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01/07/2014 để tiến tới hoàn thiện hơn công tác quản lý nhà nước về đất đai.
Hệ thống pháp luật về đất đai thời ký này đã đánh dấu một dấu mốc quan trong về sự đổi mới chính sách đất đai của Nhà nước ta với những thay đổi quan trọng, các nội dung về quản lý nhà nước về đất đai ngày càng được hoàn thiện phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước. 11 Luan van Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai bao hàm các yếu tố cơ bản sau: Chủ thể quản lý nhà nước về đất đai: là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đất đai. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách là chủ sử hữu toàn bộ đất đai thực hiện quyền quản lý nhà nước của minh thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như: Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân các cấp, UBND các cấp và hệ thống cơ quan địa chính được thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Đối tượng của quản lý nhà nước về đất đai: Các loại đất theo phân loại của pháp luật đất đai (năm 2013) như đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng.
Dưới góc độ quản lý hành chính nhà nước, chính các cơ quan hành chính nhà nước về đất đai cấp dưới cũng là đối tượng chịu sự quản lý của cơ quan Nhà nước cấp trên về đất đai. Ví dụ: phòng Tài nguyên và Môi trường huyện là đối tượng quản lý của Sở Tài nguyên và Môi trường trong việc thực hiện các hoạt động chuyên môn như khảo sát, đo đạc và lập bản đồ địa chính. Chính các chủ thể sử dụng đất cũng trở thành đối tượng của quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm: cá nhân, hộ gia đình, tổ chức trong và ngoài nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, được công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Như vậy, đối tượng quản lý nhà nước về đất đai chính là hành vi, hoạt động của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong quá trình quản lý, sử dụng đất đai Mục tiệu của quản lý Nhà nước về đất đai được xác định cụ thể trong Hiến Pháp 2013, Luật đất đai năm 2013 và trong các quy định của pháp luật về đất đai, đó là sự bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích, hiệu quả, tiết kiệm và bảo vệ môi trường ở mỗi địa phương và cả nước.
Để đạt được mục tiêu đề ra trong quản lý nhà nước về đất đai, Nhà nước phải sử dụng các phương pháp ( các biện pháp và cách thức) và các công cụ thích hợp để tác động vào đối tượng quản lý. Đặc biệt phải kết hợp 12 Luan van hài hòa các phương pháp và sử dụng linh hoạt các công cụ để đạt được hiệu quả quản lý cao. Đó là các công cụ pháp luật, thuế và lệ phí, công cụ hành chính và các phương pháp như phương pháp giáo dục thuyết phục, phương pháp kinh tế, phương pháp cưỡng chế,…. Quản lý nhà nước về đất đai cấp quận là sự thể hiện thống nhất những phương hướng hoạt động cơ bản của cơ quan hành chính nhà nước nảy sinh từ sự phân công, sự chuyên môn hóa trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra.
Quản lý nhà nước về đất đai cấp quận bao gồm nhiều nội dung, mỗi nội dung có mục tiêu cụ thể, một công việc tất yếu phải thực hiện, giữa các nội dung này có liên hệ mật thiết với nhau. Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai cấp quận có thế thấy qua các vấn đề: Thứ nhất: lập kế hoạch sử dụng đất; thứ hai quản lý tình hình sử dụng đất đai (đây là cơ sở để Nhà nước xây dựng kế hoạch, chiến lược sử dụng đất có hiệu quả); thứ ba là kiểm tra, giám sát việc thực hiện quản lý và sử dụng đất. Sự cần thiết quản lý nhà nước về đất đai Đất đai là tài sản quốc gia đặc biệt, và nó là thể hiện quyền lãnh thổ của quốc gia; Với những đặc điểm diện tích có hạn, vị trí cố định, các tính chất lý hóa học luôn bị thay đổi theo thời gian và không gian và luôn đứng trước nguy cơ suy thoái và cạn kiệt trong khi nhu cầu của con người về đất đai ngày càng gia tăng.