Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ, không chỉ tập trung ở các đô thị lớn mà ngày càng mở rộng đến các vùng nông thôn, làng nghề truyền thống. Đi cùng với sự tăng trưởng kinh tế là tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải rắn phát sinh ngày càng phức tạp. Làng nghề đan lát thôn Vinh Ba (thuộc xã Hòa Đồng, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên) được hình thành từ lâu đời và chính thức được công nhận là làng nghề thủ công truyền thống của tỉnh Phú Yên vào năm 2008. Hoạt động sản xuất này giữ gìn nét văn hóa, tạo việc làm và ổn định thu nhập cho cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, hoạt động đan lát thủ công sử dụng khối lượng lớn nguyên liệu tự nhiên (tre, nứa) tạo ra lượng phế phẩm đáng kể. Lượng chất thải rắn làng nghề không được thu gom triệt để, kết hợp với chất thải rắn sinh hoạt từ các hộ dân và chợ địa phương thải bỏ ra các bãi rác tự phát, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và làm suy giảm mỹ quan nông thôn. Xuất phát từ thực tế đó, khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Phấn đã tập trung đánh giá toàn diện hiện trạng quản lý chất thải rắn trên địa bàn.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể trong văn bản bao gồm:

  1. Mục tiêu tổng quát: Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn tại thôn Vinh Ba, từ đó làm cơ sở căn cứ cho việc đề xuất các giải pháp cải thiện tình hình quản lý chất thải rắn tại thôn Vinh Ba, xã Hòa Đồng, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Đánh giá được hiện trạng quản lý chất thải rắn tại thôn Vinh Ba, xã Hòa Đồng, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
    • Đề xuất được giải pháp cải thiện tình hình quản lý chất thải rắn tại thôn Vinh Ba, xã Hòa Đồng, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) và chất thải rắn làng nghề (CTRLN) tại thôn Vinh Ba, xã Hòa Đồng, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thôn Vinh Ba, xã Hòa Đồng, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên (tổng diện tích tự nhiên 247 ha, tiếp giáp thôn Đông Thuyền, Phú Diễn Trong, Phú Diễn Ngoài và Mỹ Thuận; dân số năm 2020 gồm 894 hộ với 2.794 nhân khẩu thường trú, trong đó có 347 hộ tham gia sản xuất đan lát).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2020 (dữ liệu điều tra, đo đếm ngoại nghiệp được tiến hành trực tiếp từ ngày 25/02/2020 đến ngày 07/03/2020).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm chuyên ngành môi trường về chất thải rắn, chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn làng nghề (phát sinh từ hoạt động sản xuất phi nông nghiệp tại các làng nghề). Khung lý thuyết phân tích dựa trên mô hình các hợp phần chức năng của một hệ thống quản lý chất thải rắn hoàn chỉnh, bao gồm: nguồn phát sinh chất thải; gom nhặt, phân loại và lưu giữ tại nguồn; thu gom; trung chuyển và vận chuyển; phân tách, xử lý và tái chế; tiêu hủy cuối cùng. Bên cạnh đó, nghiên cứu kế thừa các báo cáo, tài liệu về hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị và nông thôn tại Việt Nam theo phân cấp quản lý từ Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng đến Ủy ban nhân dân các cấp và Công ty Môi trường đô thị.

Tác giả đã áp dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu thực địa và thống kê định lượng cụ thể:

  • Phương pháp kế thừa tài liệu, số liệu: Thu thập tài liệu chuyên ngành, báo cáo khoa học liên quan đến CTRSH và CTRLN; các số liệu thống kê về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội do Ủy ban nhân dân xã Hòa Đồng cung cấp; số liệu rác thải thu gom của Tổ đội Vệ sinh môi trường (VSMT) xã Hòa Đồng.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Khảo sát thực tế các tuyến đường thu gom chính của thôn, thời gian bắt đầu và kết thúc; điều tra số lượng công nhân, trang thiết bị, phương tiện xe gom; khảo sát các vị trí bãi rác tự phát và điểm tập kết trung chuyển rác thải.
  • Phương pháp điều tra ngoại nghiệp (cân rác thực tế): Sử dụng dụng cụ gồm bạt, cân đồng hồ, găng tay, khẩu trang, bao đựng. Tiến hành cân đo trực tiếp lượng rác tại 30 hộ gia đình đại diện và 30 hộ làm nghề đan lát. Quy trình thực hiện: đổ rác ra bạt, phân loại thủ công thành từng nhóm thành phần, cân từng loại bằng cân kỹ thuật và ghi chép vào biểu mẫu. Tần suất điều tra gồm 6 lần đo, mỗi lần cách nhau một ngày (trong chu kỳ đo đếm kéo dài 14 ngày, từ 25/02/2020 đến 07/03/2020).
  • Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp nhà quản lý chất thải tại thôn/xã về quy trình vận hành, tần suất thu gom và mức thu phí; phỏng vấn bằng bảng hỏi đối với người dân thôn Vinh Ba với tổng số 60 phiếu (30 phiếu điều tra về CTRSH và 30 phiếu về CTRLN) xoay quanh nhận thức phân loại, dụng cụ lưu chứa, mức phí và mức độ hài lòng về dịch vụ thu gom.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2010 để tính toán thống kê mô tả, tổng hợp bảng biểu và vẽ đồ thị. Hệ số phát sinh bình quân đầu người và bình quân hộ làm nghề được xác định theo các công thức:
    • Khối lượng CTRSH bình quân đầu người: $X = S / (A \times 14)$ (kg/người/ngày), trong đó $X$ là khối lượng CTRSH bình quân đầu người, $S$ là tổng lượng CTRSH đo được hàng ngày, $A$ là số nhân khẩu điều tra (126 người), 14 là số ngày của chu kỳ đo.
    • Khối lượng CTRLN bình quân hộ làm nghề: $F = T / (P \times 14)$ (kg/hộ/ngày), trong đó $F$ là khối lượng CTRLN bình quân hộ sản xuất, $T$ là tổng lượng CTRLN đo được hàng ngày, $P$ là số hộ làm nghề điều tra (30 hộ), 14 là số ngày đo đếm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương này tổng kết cơ sở lý luận về chất thải rắn và tình hình quản lý rác thải trên phạm vi quốc tế và Việt Nam.

  • Cơ sở lý thuyết: Phân loại chất thải rắn theo nguồn gốc phát sinh (khu dân cư, khu thương mại, cơ quan công sở, công trình xây dựng, khu công cộng, nhà máy xử lý, công nghiệp, nông nghiệp). Phân tích thành phần chất thải rắn bao gồm các chất cháy được (giấy, dệt, thực phẩm, rơm rạ, chất dẻo, da, cao su), chất không cháy (kim loại sắt, kim loại phi sắt, thủy tinh, đá sành sứ) và các thành phần hỗn hợp. Nêu rõ đặc thù của chất thải rắn làng nghề là mang đặc tính riêng của từng loại hình sản xuất (làng nghề gỗ tạo mùn cưa; gốm sinh tro xỉ; đan lát tạo mây, tre thừa...).
  • Tổng quan quốc tế: Tổng hợp lượng phát sinh rác thải sinh hoạt đô thị theo mức thu nhập và tỷ lệ đô thị hóa tại một số quốc gia. Nước thu nhập thấp có tỷ lệ phát sinh khoảng 0,40 - 0,55 kg/người/ngày; nước thu nhập cao đạt 1,10 - 1,59 kg/người/ngày (Hàn Quốc: 1,59 kg/người/ngày; Nhật Bản: 1,47 kg/người/ngày; Canada: 1,7 kg/người/ngày; Mỹ: 2 kg/người/ngày). Đồng thời, chương 1 lược thuật kinh nghiệm phân loại và xử lý rác tại California (thu phí theo thể tích và tần suất), Nhật Bản (phân 3 loại túi màu, ủ sinh học và nén xỉ làm gạch tự thấm), Singapore (luật nghiêm, phân loại bằng túi nilon, chuyển nhà máy đốt thu hồi năng lượng), cũng như tỷ lệ xử lý bằng chôn lấp, đốt, tái chế và ủ phân tại các nước châu Âu (Thụy Sĩ đốt 59%; Thụy Điển ủ phân 34%; Canada chôn lấp 80%).
  • Tổng quan trong nước: Đánh giá thực trạng phát sinh CTR nông thôn với mức phát sinh bình quân khoảng 0,3 kg/người/ngày (năm 2010), tỷ lệ thu gom rác thải nông thôn trên cả nước chỉ đạt 40 - 55%, khoảng 60% số thôn/xã tổ chức thu dọn định kỳ. Hệ thống xử lý cả nước có 35 nhà máy tập trung, khoảng 50 lò đốt quy mô nhỏ (công suất dưới 500 kg/giờ) và 660 bãi chôn lấp (chỉ có 203 bãi hợp vệ sinh). Điểm qua các công trình nghiên cứu của Phạm Thị Thảo Nguyên (Quỳnh Lưu, Nghệ An), Nguyễn Đình Hùng (TP. Pleiku), Phạm Thành Trung (Cẩm Phả, Quảng Ninh) và các nghiên cứu về làng nghề của Nguyễn Thu Hường và Vy Thùy Linh (làng nghề mây tre đan Yên Tiến, Nam Định), Đinh Thị Thu Hiền (làng nghề nhôm Văn Môn, Bắc Ninh), Trần Văn Huấn (làng nghề mộc Thái Yên, Hà Tĩnh).
  • Khái quát khu vực nghiên cứu: Giới thiệu vị trí địa lý thôn Vinh Ba thuộc xã Hòa Đồng, điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm (nhiệt độ trung bình 26,5°C, hai mùa mưa - nắng rõ rệt), nguồn cấp nước từ sông Ba; quy mô 894 hộ với 2.794 nhân khẩu; kinh tế kết hợp nông nghiệp trồng lúa và làng nghề đan lát tre nứa truyền thống với 347 hộ sản xuất.

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này xác lập chi tiết thiết kế nghiên cứu thực địa và các công cụ thu thập dữ liệu:

  • Xác định đối tượng nghiên cứu là quy trình quản lý CTRSH và CTRLN tại thôn Vinh Ba; phạm vi nghiên cứu tại địa phương trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2020.
  • Trình bày hệ thống nội dung cần giải quyết: đánh giá hiện trạng phát sinh, đánh giá hiện trạng quản lý kỹ thuật - xã hội (lưu trữ, thu gom, vận chuyển, xử lý, chi phí) và đề xuất các giải pháp khả thi.
  • Mô tả chi tiết phương pháp lấy mẫu và điều tra thực nghiệm: Lập phiếu điều tra cho 30 hộ gia đình sinh hoạt (tổng số 126 nhân khẩu) và 30 hộ sản xuất đan lát; tiến hành cân đo phân loại trực tiếp khối lượng rác trong 6 đợt cách nhật (chu kỳ 14 ngày); phương pháp điều tra biểu mẫu với 60 phiếu hỏi; phỏng vấn sâu cán bộ quản lý địa phương; công thức toán học và công cụ Microsoft Excel 2010 dùng để tính toán định mức và tỷ lệ phần trăm các dòng rác.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương này công bố toàn bộ dữ liệu điều tra thực nghiệm và phân tích thực trạng tại thôn Vinh Ba:

  • Hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt: Xác định 3 nguồn phát sinh chính gồm hộ gia đình/kinh doanh (894 hộ), chợ Xỏm và trụ sở thôn. Khối lượng phát sinh bình quân đầu người đạt 0,63 kg/người/ngày (tổng lượng rác từ hộ gia đình là 1.760,22 kg/ngày, tương đương 642,4 tấn/năm). Chợ Xỏm phát sinh trung bình 1 xe/ngày tương đương 200 kg/ngày (73 tấn/năm). Trụ sở thôn phát sinh 10 kg/ngày (3,65 tấn/năm). Tổng khối lượng CTRSH toàn thôn là 1.970,22 kg/ngày (1,97 tấn/ngày; 719,05 tấn/năm). Về tỷ lệ cơ cấu nguồn phát sinh: hộ gia đình chiếm 89,34%, chợ Xỏm chiếm 10,15%, trụ sở thôn chiếm 0,51%.
  • Thành phần cơ lý CTRSH: Qua phân tích 30 hộ dân, thành phần hữu cơ (thực phẩm thừa, cành hoa lá...) chiếm 54,32%; thành phần vô cơ khó phân hủy (túi nilon, nhựa, sành sứ, thủy tinh, kim loại...) chiếm 44,13%; chất thải nguy hại (vỏ pin, bóng đèn huỳnh quang, chai lọ thuốc diệt côn trùng...) chiếm 1,55%.
  • Hiện trạng phát sinh chất thải rắn làng nghề: Nguyên liệu chính là tre nứa trải qua các khâu chẻ, chuốt, vót nan, đan thành vỉ bánh, thúng, giỏ. Tỷ lệ phát sinh CTRLN bình quân đạt 3,08 kg/hộ/ngày. Với 347 hộ làm nghề, tổng lượng CTRLN phát sinh toàn thôn là 1.068,76 kg/ngày (khoảng 1,07 tấn/ngày; tương đương 390,55 tấn/năm). Thành phần CTRLN hoàn toàn là rác hữu cơ thực vật (nan tre vụn, đầu mẩu tre thừa, dăm tre chuốt sợi).
  • Hiện trạng quản lý kỹ thuật:
    • Lưu giữ: 56,67% hộ gia đình dùng bao tải để chứa CTRSH, 30% dùng thùng rác, 13,33% dùng bao nilon. 100% hộ dân không thực hiện phân loại rác tại nguồn, và 60% cho rằng việc phân loại là không quan trọng. Đối với CTRLN, 63,34% số hộ không sử dụng dụng cụ chứa mà đổ đống trực tiếp trên nền đất; 36,66% bỏ chung vào bao tải hoặc thùng nhựa cùng rác sinh hoạt.
    • Thu gom và vận chuyển: Do Tổ đội VSMT xã Hòa Đồng thực hiện với nhân sự chỉ gồm 4 công nhân, phương tiện thô sơ gồm 1 xe chở rác cũ, 2 chổi, bảo hộ lao động hạn chế (2 đôi găng tay/người, 1 đôi ủng/người). Hình thức thu gom thủ công: hộ mặt đường đặt rác trước cửa, hộ trong hẻm mang ra bãi tập kết. Tần suất thu gom chỉ 1 lần/tuần (vào lúc 8h sáng và 16h chiều cùng ngày). 40% hộ dân đánh giá tần suất 1 lần/tuần là không hợp lý do gây ứ đọng rác. Về đánh giá chất lượng phục vụ: 53,33% hài lòng, 10% đánh giá tốt, 36,67% phản ánh thái độ chưa tốt (chỉ gom túi rác lớn, không quét dọn rác rơi vãi). Rác thu gom được chở về bãi tập kết của huyện, sau đó xe chuyên dụng trung chuyển về chôn lấp tại Bãi rác Thọ Vức (TP. Tuy Hòa).
    • Tự xử lý tại chỗ: Khoảng 40% số hộ sản xuất tự thu gom và xử lý chất thải làng nghề bằng hình thức đốt lộ thiên ngoài trời do các gia đình đã chuyển sang dùng bếp gas, không còn đun nấu bằng củi tre như trước năm 2008.
  • Hiện trạng thu phí VSMT: Mức phí quy định theo 4 nhóm đối tượng: hộ mặt đường có kinh doanh (16.000 đồng/tháng), hộ mặt đường không kinh doanh (9.000 đồng/tháng), hộ trong ngõ có kinh doanh (12.000 đồng/tháng), hộ trong ngõ không kinh doanh (7.000 đồng/tháng). Tỷ lệ người dân đánh giá mức phí này ở mức trung bình/hợp lý dao động từ 72,8% đến 80,2%.
  • Giải pháp đề xuất: Trình bày chi tiết 5 nhóm giải pháp gồm giải pháp đầu tư tài chính - cơ sở vật chất (mua xe, trang bị thùng rác 2 ngăn cho hộ dân, thùng rác công cộng, bãi tập kết quy chuẩn); giải pháp công nghệ - kỹ thuật (ủ phân hữu cơ compost kết hợp bùn biogas, tận dụng nan tre làm chất đốt, chôn lấp hợp vệ sinh chất thải trơ); giải pháp tổ chức thu gom (tăng tần suất lên 3 lần/tuần, cố định khung giờ); giải pháp phân loại rác tại nguồn thành 2 dòng (dễ phân hủy và khó phân hủy); giải pháp tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng qua đoàn thể và trường học.

Kết quả và đóng góp của đề tài

Nghiên cứu cung cấp số liệu thực nghiệm định lượng cụ thể về lượng phát sinh, cơ cấu và công tác quản lý chất thải rắn tại một làng nghề nông thôn vùng duyên hải miền Trung:

Chỉ số nghiên cứu Giá trị định lượng Đơn vị tính / Ghi chú
Định mức phát sinh CTRSH bình quân đầu người 0,63 kg/người/ngày (khảo sát trên 30 hộ, 126 khẩu)
Tổng khối lượng CTRSH phát sinh từ hộ gia đình 1.760,22 kg/ngày (tương đương 642,40 tấn/năm)
Lượng CTRSH phát sinh tại Chợ Xỏm 200,00 kg/ngày (tương đương 73,00 tấn/năm)
Lượng CTRSH phát sinh tại trụ sở thôn 10,00 kg/ngày (tương đương 3,65 tấn/năm)
Tổng lượng CTRSH phát sinh toàn thôn 1.970,22 kg/ngày (~1,97 tấn/ngày; 719,05 tấn/năm)
Tỷ lệ thành phần CTRSH: Hữu cơ 54,32 % (thực phẩm thừa, cành hoa lá...)
Tỷ lệ thành phần CTRSH: Vô cơ 44,13 % (túi nilon, chai nhựa, kim loại, sành sứ...)
Tỷ lệ thành phần CTRSH: Nguy hại 1,55 % (pin, vỏ thuốc bảo vệ thực vật, bóng đèn)
Định mức phát sinh CTRLN bình quân hộ làm nghề 3,08 kg/hộ/ngày (khảo sát trên 30 hộ làm nghề)
Tổng khối lượng CTRLN phát sinh toàn thôn 1.068,76 kg/ngày (~1,07 tấn/ngày; 390,55 tấn/năm)
Tổng lượng rác thải (CTRSH + CTRLN) toàn thôn 3.038,98 kg/ngày (~3,04 tấn/ngày; 1.109,60 tấn/năm)
Tỷ lệ hộ dân không phân loại rác tại nguồn 100,00 % (30/30 hộ khảo sát không phân loại)
Tỷ lệ CTRLN không có dụng cụ chứa (đổ thành đống) 63,34 % số hộ sản xuất
Tỷ lệ hộ làm nghề tự tiêu hủy CTRLN bằng cách đốt 40,00 % số hộ sản xuất
Nhân lực và thiết bị Tổ đội VSMT xã Hòa Đồng 4 người, 1 xe rác 2 chổi, 2 đôi găng/người, 1 đôi ủng/người
Tần suất thu gom rác trên địa bàn thôn 1 lần/tuần (khung giờ 8h00 và 16h00 cùng ngày)

Mức thu phí vệ sinh môi trường thực tế tại địa phương được tác giả thống kê như sau:

Đối tượng thu gom Mức phí hộ mặt đường (đồng/hộ/tháng) Mức phí hộ trong ngõ, hẻm (đồng/hộ/tháng)
Hộ có sản xuất, kinh doanh buôn bán 16.000 12.000
Hộ không sản xuất, kinh doanh 9.000 7.000

Các giải pháp và kiến nghị mà tác giả đề xuất:

  • Giải pháp đầu tư: Huy động nguồn tài chính địa phương để trang bị cho mỗi hộ gia đình 2 thùng rác riêng biệt (chứa rác hữu cơ và rác vô cơ); bố trí hệ thống thùng rác công cộng tại các trục đường chính và chợ Xỏm; quy hoạch điểm tập kết rác tập trung hợp vệ sinh; bổ sung bảo hộ lao động và phương tiện thu gom đạt chuẩn cho công nhân.
  • Giải pháp kỹ thuật và công nghệ: Ứng dụng kỹ thuật làm phân ủ hữu cơ (compost) từ rác thực phẩm và phế phẩm nông nghiệp kết hợp bùn thải biogas và phân chuồng để làm phân bón cây trồng; tận dụng triệt để nan tre, dăm tre thừa của làng nghề làm chất đốt gia dụng hoặc cung ứng cho các hộ có nhu cầu; chôn lấp hợp vệ sinh đối với các thành phần trơ không thể tái chế tại bãi rác Thọ Vức.
  • Giải pháp tổ chức: Tăng tần suất thu gom từ 1 lần/tuần lên 3 lần/tuần nhằm chấm dứt tình trạng quá tải, ứ đọng rác tại hộ dân; cố định khung giờ thu gom và trung chuyển trong ngày để người dân chủ động bỏ rác đúng giờ.
  • Nâng cao nhận thức cộng đồng: Triển khai các đợt tập huấn trực tiếp của cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường; huy động Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ tổ chức các phong trào "Ngày môi trường thế giới", "Thanh niên vì môi trường"; đưa tiêu chí thực hiện bảo vệ môi trường và phân loại rác vào quy ước bình xét gia đình văn hóa hàng năm; lồng ghép giáo dục môi trường ngoại khóa cho học sinh các trường học trên địa bàn.

Đóng góp của đề tài: Khóa luận đã xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm đầu tiên về định mức phát sinh rác thải sinh hoạt và rác thải làng nghề đan lát tại thôn Vinh Ba, xã Hòa Đồng năm 2020. Nghiên cứu chỉ rõ điểm nghẽn của chuỗi quản lý rác thải nông thôn nơi đây: tỷ lệ phát sinh hữu cơ rất lớn (trên 54% đối với CTRSH và 100% đối với CTRLN) nhưng 100% không được phân loại tại nguồn, năng lực thu gom yếu kém (1 xe, 4 công nhân cho toàn xã, tần suất 1 lần/tuần) dẫn đến việc 40% hộ dân đốt rác thủ công gây ô nhiễm không khí cục bộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện triển khai thực tế:

  • Giới hạn về mẫu điều tra: Nghiên cứu thực hiện khảo sát chi tiết trên cỡ mẫu 30 hộ gia đình sinh hoạt và 30 hộ sản xuất đan lát; tổng số phiếu phỏng vấn là 60 phiếu. Cỡ mẫu này phản ánh được bức tranh chung của thôn nhưng chưa bao quát toàn bộ 894 hộ dân và 347 hộ làng nghề trên địa bàn.
  • Giới hạn về chu kỳ thời gian quan trắc: Dữ liệu cân đo thực tế được thực hiện trong khoảng thời gian ngắn (từ 25/02/2020 đến 07/03/2020) thuộc mùa khô, chưa tiến hành đo đạc đối chứng vào mùa mưa (tháng 9 đến tháng 12) hoặc vào các dịp lễ tết khi khối lượng hàng đan lát phục vụ tiêu dùng tăng cao.
  • Giới hạn về phân tích môi trường chuyên sâu: Khóa luận mới dừng lại ở việc cân đo khối lượng vật lý và phân loại thành phần bằng phương pháp cơ học; chưa tiến hành lấy mẫu phân tích các chỉ tiêu hóa lý, độ ẩm, nhiệt trị của rác thải, cũng như chưa quan trắc các thông số ô nhiễm của nước rỉ rác hoặc khí thải từ hoạt động đốt rác làng nghề ngoài trời.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát định kỳ theo mùa trong năm; mở rộng quy mô điều tra toàn diện các cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ quy mô lớn (như cơ sở Đồng Nhất) và tính toán chi tiết bài toán kinh tế - kỹ thuật khi áp dụng mô hình ủ phân hữu cơ compost quy mô hộ gia đình hoặc liên hộ tại địa phương.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo phù hợp cho sinh viên, học viên ngành Quản lý tài nguyên và môi trường, Khoa học môi trường, Quản lý môi trường đô thị và nông thôn khi thực hiện các đồ án, khóa luận về đánh giá hiện trạng chất thải rắn nông thôn và làng nghề truyền thống.

Tài liệu đặc biệt có giá trị ở phương pháp luận điều tra thực địa: bảng câu hỏi điều tra xã hội học về môi trường nông thôn, quy trình cân đo rác thải ngoại nghiệp bằng phương pháp thủ công và các công thức tính định mức phát sinh bình quân đầu người, bình quân hộ sản xuất. Bên cạnh đó, số liệu thực trạng về tần suất thu gom, cơ cấu biểu phí vệ sinh môi trường và tỷ lệ thành phần rác thải hữu cơ tại xã Hòa Đồng là nguồn số liệu cơ sở hữu ích cho cán bộ quản lý môi trường cấp xã, huyện Tây Hòa trong việc xây dựng phương án thu gom, điều chỉnh biểu phí và đầu tư hạ tầng quản lý chất thải rắn nông thôn mới.

Câu hỏi thường gặp

1. Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn làng nghề phát sinh trung bình mỗi ngày tại thôn Vinh Ba là bao nhiêu?
Theo kết quả điều tra năm 2020 của tác giả, khối lượng CTRSH phát sinh toàn thôn là 1.970,22 kg/ngày (trong đó hộ gia đình là 1.760,22 kg/ngày, chợ Xỏm là 200 kg/ngày, trụ sở thôn là 10 kg/ngày). Khối lượng CTRLN phát sinh từ 347 hộ làm nghề đan lát là 1.068,76 kg/ngày. Tổng lượng chất thải rắn phát sinh trên địa bàn thôn là 3.038,98 kg/ngày (tương đương hơn 3,03 tấn/ngày).

2. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại thôn Vinh Ba gồm những nhóm nào và chiếm tỷ lệ bao nhiêu?
Dòng CTRSH tại thôn gồm 3 nhóm thành phần chính: CTR hữu cơ (thực phẩm thừa, cành hoa lá...) chiếm tỷ lệ cao nhất với 54,32%; CTR vô cơ (bao nilon, nhựa, sành sứ, thủy tinh, kim loại...) chiếm 44,13%; CTR nguy hại (pin, bóng đèn huỳnh quang hỏng, vỏ lọ thuốc bảo vệ thực vật) chiếm 1,55%.

3. Hiện trạng công tác thu gom rác thải tại thôn Vinh Ba do đơn vị nào phụ trách và có tần suất ra sao?
Công tác thu gom do Tổ đội Vệ sinh môi trường xã Hòa Đồng đảm nhiệm với lực lượng gồm 4 công nhân và 1 xe chở rác cũ thô sơ. Tần suất thu gom chỉ đạt 1 lần/tuần, thực hiện vào hai khung giờ là 8 giờ sáng và 16 giờ chiều trong ngày thu gom.

4. Mức phí thu gom rác thải áp dụng cho các hộ dân tại thôn Vinh Ba được quy định như thế nào?
Mức phí được chia thành 4 mức: Hộ mặt đường có kinh doanh nộp 16.000 đồng/tháng; hộ mặt đường không kinh doanh nộp 9.000 đồng/tháng; hộ trong ngõ/hẻm có kinh doanh nộp 12.000 đồng/tháng; hộ trong ngõ/hẻm không kinh doanh nộp 7.000 đồng/tháng. Đa số người dân (từ 72,8% đến 80,2% tùy nhóm hộ) đánh giá mức phí này là hợp lý/trung bình.

5. Điểm xử lý cuối cùng của lượng rác thải được thu gom từ thôn Vinh Ba là ở đâu?
Rác sau khi được công nhân thu gom và đưa về bãi tập kết của huyện sẽ được các xe chuyên dụng trung chuyển về xử lý chôn lấp hợp vệ sinh tại Bãi rác Thọ Vức, thuộc địa phận thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Phấn đã hoàn thành mục tiêu đánh giá hiện trạng phát sinh và quản lý chất thải rắn tại thôn Vinh Ba, xã Hòa Đồng năm 2020 thông qua phương pháp đo đếm thực địa và phỏng vấn xã hội học. Kết quả cho thấy lượng rác phát sinh lớn (hơn 3 tấn/ngày gồm CTRSH và rác làng nghề đan lát), thành phần hữu cơ chiếm ưu thế nhưng công tác quản lý còn nhiều hạn chế như 100% không phân loại tại nguồn, phương tiện thu gom thô sơ và tần suất thu gom thấp (1 lần/tuần) khiến rác thải bị ứ đọng và 40% hộ dân phải tự đốt rác làng nghề. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất về đầu tư hạ tầng, công nghệ ủ phân hữu cơ, điều chỉnh lịch trình thu gom và truyền thông cộng đồng mang tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương hoàn thiện công tác bảo vệ môi trường nông thôn.