Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHẨN ĐOÁN, ĐIỀU TRỊ PHÌNH ĐỘNG MẠCH NÃO VÀ THEO DÕI PHÌNH ĐỘNG MẠCH NÃO SAU ĐIỀU TRỊ CAN THIỆP NỘI MẠCH 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Galen và Richard Wiseman (1669) là những người đầu tiên dùng thuật ngữ phình mạch não để mô tả sự giãn động mạch não. Nghiên cứu về các biểu hiện lâm sàng của phình mạch não được bắt đầu từ năm 1679.
Giovani Morgagni (1775) chỉ ra rằng phình mạch não có thể là nguyên nhân của xuất huyết nội sọ. John Blackhall (1813) báo cáo trường hợp phình động mạch não vỡ đầu tiên. Huntchinson (1875) mô tả triệu chứng của PĐMN đoạn trong xoang hang gồm đau đầu dữ dội kèm liệt các dây thần kinh sọ III, IV, VI và V1. William Gover (1893) công bố một bản ghi chép đầy đủ các biểu hiện lâm sàng của PĐMN và cho rằng tiên lượng của PĐMN là rất xấu.
Egaz Moniz(1927) phát minh phương pháp chụp mạch não và sau đó 6 năm tác giả công bố nhìn thấy dị dạng mạch não trên phim chụp mạch. Seldinger (1953) phát minh phương pháp chụp mạch não qua ống thông và nó được ứng dụng rộng rãi hiện nay. Năm 1983 Maneft và cộng sự phát hiện ra phương pháp chụp mạch mã hoá xoá nền. Năm 2000, White và cs đã báo cáo độ nhạy của CLVT với các máy đơn dãy để phát hiện PĐMN từ 67-100%, độ chính xác xấp xỉ 90% [8].
Vào năm 2000, với sự ra đời của máy chụp CLVT đa dãy, đặc biệt là máy chụp CLVT 64 dãy vào năm 2005 đã tạo một bước tiến nhảy vọt trong chẩn đoán PĐMN đặc biệt là PĐMN có kích thước nhỏ do thời gian cắt rất nhanh, với độ phân giải không gian và thời gian rất cao. 4 Theo Wintermark và cs nhận thấy độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác của chụp CLVT 4 dãy lần lượt từ 99%, 95,2% và 98,3% [9]. Theo Papke K và cs, chụp mạch CLVT 64 dãy trong phát hiện PĐMN có độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự báo dương tính và giá trị dự báo âm tính lần lượt là 98%, 100%, 100% và 96% [10]. Vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, nhiều nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật chụp CHT trong chẩn đoán PĐMN.
Korogi và cs đã thực hiện chụp mạch CHT xung TOF đánh giá cho 126 bệnh nhân, trong đó có 78 bệnh nhân mắc PĐMN. Độ nhạy của chụp mạch CHT với các TP có kích thước nhỏ 50-60% và với các TP có kích thước trung bình 77-94%, chụp CHT xung TOF 3D có giá trị cao trong phát hiện các PĐMN kể cả các PĐMN có kích thước nhỏ [11]. Từ đó đến nay nhiều công trình nghiên cứu cũng đã khẳng định chụp CHT xung mạch TOF và xung mạch có tiêm thuốc ĐQT có giá trị cao trong chẩn đoán PĐMN. Năm 1937, Walter Dany công bố trường hợp phẫu thuật thành công đầu tiên điều trị PĐMN bằng kẹp cổ túi phình.
Điều trị can thiệp nội mạch PĐMN được Fedor Serbinenko, phẫu thuật viên người Nga, mô tả đầu tiên vào những năm 1970. Ông dùng ống thông mạch với bóng latex tách rời để điều trị bằng cách đặt bóng trực tiếp vào lòng túi phình hoặc bằng cách làm tắc động mạch mang [12]. Năm 1991, Guido Guglielmi lần đầu tiên mô tả kỹ thuật tắc túi phình bằng vòng xoắn kim loại (VXKL) tách bằng điện, tên là GDCs (Guglielmi detachable coils). VXKL được đưa trực tiếp vào trong túi phình qua ống thông siêu nhỏ (microcatheter) và được tách khỏi dây dẫn bằng dòng điện một chiều.
Túi phình được nhét đầy bằng một hoặc nhiều VXKL đến khi loại khỏi vòng tuần hoàn [13].Moret mô tả kỹ thuật dùng bóng bảo vệ chẹn ngang qua cổ túi PĐMN để giữ ổn định VXKL áp dụng điều trị với các PĐMN có cổ rộng [14]. 5 Năm 1997, Higashadi sử dụng giá đỡ nội mạch (Stent) đặt trong lòng động mạch mang qua cổ túi PĐMN được áp dụng với các trường hợp cổ túi PĐMN rất rộng, hoặc PĐMN hình thoi, qua đó lấp tắc PĐMN bằng VXKL. Năm 2007, với sự ra đời của vật liệu giá đỡ nội mạch mới (Stent Silk và Pipeline Stent) có thể đặt trong lòng động mạch mang làm thay đổi hướng dòng chảy và gây tắc PĐMN mà không cần đặt VXKL trong túi PĐMN [15]. Theo kết quả công bố ISAT năm 2005 tổng kết so sánh sự an toàn và hiệu quả giữa hai phương pháp phẫu thuật và CTNM trên 2143 trường hợp theo dõi trong 1 năm cho thấy nguy cơ tử vong và tàn tật của phương pháp CTNM là 22,6% thấp hơn so với phương pháp phẫu thuật (6,9%).
Tỷ lệ chảy máu tái phát sau 1 năm là 0,65% đối với phương pháp CTNM [16, 17]. Kahara và cs đã nghiên cứu 20 bệnh nhân với 21 túi PĐMN sau điều trị CTNM thấy chụp CHT 2,0T xung TOF có độ nhạy, độ đặc hiệu và giá trị dự báo dương tính tương ứng là 90%, 91% và 90% trong đánh giá tình trạng tái thông PĐMN sau điều trị CTNM [18]. Boulin Anne sử dụng phương pháp chụp mạch CHT 1,5T xung mạch có tiêm thuốc ĐQT trong theo dõi PĐMN sau điều trị CTNM xác nhận độ nhạy và độ đặc hiệu của chụp mạch CHT tương ứng là 72% và 98%. Tác giả ghi nhận rằng chụp mạch CHT 1,5T xung mạch có tiêm thuốc ĐQT có giá trị cao và được xem xét lựa chọn thay thế CMSHXN trong theo dõi tình trạng tái thông PĐMN sau điều trị CTNM [19].
Tất cả các tác giả đều nhận thấy chụp mạch CHT hữu ích, có giá trị cao và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với CMSHXN trong đánh giá tái thông túi PĐMN sau điều trị CTNM. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Ở Việt Nam, từ năm 1962 Nguyễn Thường Xuân và cộng sự nghiên cứu 8 trường hợp phình mạch não nhận thấy: Phình mạch não hình túi hay nằm ở đa giác Willis hoặc nhánh cùng của động mạch cảnh trong [20]. 6 Lê Văn Thính- Lê Đức Hinh- Nguyễn Chương (1996) nghiên cứu 65 trường hợp CMDMN tại khoa Thần kinh Bệnh viện Bạch Mai nhận thấy CMDMN thường gặp ở người trẻ mà nguyên nhân số 1 là PĐMN [21]. Phạm Thị Hiền (1993) nghiên cứu về CMDMN qua kết quả chụp mạch não và CLVT cho biết: nguyên nhân chính gây CMDMN là vỡ PĐMN và thông động- tĩnh mạch não, lứa tuổi hay gặp là 20-40 [22].
Hoàng Đức Kiệt (1994) nhận xét trên phim chụp CLVT đơn dãy cho thấy đa số PĐMN không hiện hình. Chẩn đoán xác định dị dạng mạch não phải dựa vào CMSHXN [23]. Nguyễn Đình Tuấn và cs (1996) qua nghiên cứu chụp CLVT và chụp động mạch não chẩn đoán PĐMN, cho thấy ở giai đoạn cấp phát hiện được 80% các PĐMN, các trường hợp âm tính giả do co thắt mạch, huyết khối, PĐMN có kích thước nhỏ và khối máu tụ trong não [24]. Theo Trần Anh Tuấn (2008) nghiên cứu giá trị chụp CLVT 64 dãy so sánh với CMSHXN trong chẩn đoán PĐMN cho kết quả độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác lần lượt là 94,5%, 97,6% và 95,5% [25].
Theo Nguyễn Thế Hào và cộng sự (2004) điều trị phẫu thuật và theo dõi hơn 5 năm với 51 bệnh nhân có túi PĐMN vỡ lựa chọn trước tiên là kẹp cổ túi phình với tỷ lệ tồn dư túi phình là 12,5%. Điều trị bọc túi phình với những túi phình vị trí cạnh mỏm yên trước và túi phình không có cổ túi (túi phình hình thoi) [26]. Theo tác giả Phạm Minh Thông và cộng sự (2004) điều trị nút PĐMN cho 65 bệnh nhân, với hầu hết là nút trực tiếp bằng VXKL, kết quả hồi phục tốt đạt 89,23%, với 15 bệnh nhân được chỉ định nút tắc động mạch mang vì có phình mạch khổng lồ và giả phình trong xoang hang kết quả tốt [27]. Năm 2011, Vũ Đăng Lưu và cs báo cáo 3 trường hợp điều trị PĐMN bằng đặt GĐNM điều chỉnh hướng dòng chảy (Stent Silk) có kết quả tốt gây tắc được túi phình [28].
7 Theo Vũ Đăng Lưu và cs (2012) tiến hành điều trị cho 135 bệnh nhân có 152 PĐMN vỡ thấy tỷ lệ tắc hoàn toàn và tắc gần hoàn toàn ngày sau can thiệp tương ứng là 55,5% và 41,43%, tỷ lệ còn dòng chảy trong túi chiếm tỷ lệ thấp, hồi phục lâm sàng tốt (Rankin cải biên độ 0,1,2) chiếm 89,6%, tỷ lệ di chứng khoảng 6,6%, tỷ lệ tử vong chiếm 3,7%. Kết quả theo dõi PĐMN sau điều trị CTNM trung bình khoảng 13 tháng thấy tỷ lệ PĐMN ổn định chiếm 69,57%, tỷ lệ tái thông cần điều trị CTNM bổ xung chiếm 14,5% [29]. Năm 2013, theo Vũ Đăng Lưu và cs đã điều trị CTNM cho 21 bệnh nhân có túi PĐMN chưa vỡ bằng cách đặt GĐNM (4 bệnh nhân dùng Stent FD và 17 bệnh nhân dùng Stent Pipeline) tại bệnh viện Bạch Mai. Kết quả cho thấy 100% bệnh nhân có hồi phục lâm sàng tốt, 100% Stent ở đúng vị trí, 13 bệnh nhân được chụp CHT theo dõi thấy: tắc hoàn toàn là 61,54%, còn dòng chảy trong túi sau 6 tháng điều trị là 38,46%, không có trường hợp nào có CMTP hoặc các biến chứng khác được tìm thấy [30].
Theo Vũ Đăng Lưu và cs (2008) nghiên cứu 39 bệnh nhân với 40 PĐMN vỡ và chưa vỡ được điều trị CTNM ít nhất 2 tháng và lâu nhất 4 năm nhận thấy độ nhạy và độ đặc hiệu của CHT 1.5T xung mạch TOF trong đánh giá tắc, tồn dư và tái thông đều là 100% so với CMSHXN [31]. Cũng theo tác giả không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 trong đánh giá tình trạng ổn định và tái thông giữa CHT xung mạch TOF 3D và CMSHXN và có sự đồng nhất chẩn đoán cao với hệ số Kappa= 0,87 [29]. Tuy nhiên cho đến nay ở trong nước chưa có tác giả nào nghiên cứu đánh giá giá trị CHT1.5Tesla có tiêm thuốc đối quang trong đánh giá PĐMN trước và sau điều trị CTNM. SƠ LƯỢC GIẢI PHẪU MẠCH CẤP MÁU CHO NÃO Hai bán cầu đại não và vùng hố sau được cấp máu chủ yếu từ hệ động mạch (ĐM) cảnh trong và hệ ĐM đốt sống thân nền.
Hai hệ này nối với nhau bởi các nhánh ở vùng nền sọ tạo nên đa giác Willis [2, 32]. Hệ động mạch cảnh trong Hệ ĐM cảnh trong gồm ĐM cảnh trong phải và trái - ĐM cảnh trong tách từ ĐM cảnh gốc ở ngang mức đốt sống cổ C4. Từ nguyên ủy, ĐM cảnh trong đi vào trong sọ qua vòng màng cứng của trần xoang hang ở ngay dưới mỏm yên trước, rồi tận hết bằng cách chia 2 nhánh tận là ĐM não trước và ĐM não giữa. Nó gồm 4 đoạn liên quan: đoạn cổ, đoạn xương đá, đoạn xoang hang và đoạn trong sọ (Hình 1.