phần mở đầu và kết luận, các nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan về đối tƣợng nghiên cứu - các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Hà Nam Chƣơng 2. Đánh giá tình trạng ô nhiễm môi trƣờng và công tác quản lý, bảo vệ môi trƣờng tại các làng nghề truyền thống Chƣơng 3. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ môi trƣờng tại các làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Hà Nam 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU - CÁC LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM 1.
Tổng quan về các làng nghề của Việt Nam 1. Sự hình thành và phát triển các làng nghề ở Việt Nam a) Sự hình thành và phát triển các làng nghề ở Việt Nam Từ xa xƣa, các hoạt động sản xuất nghề thủ công đã là một trong những nét văn hóa đặc thù trong đời sống của ngƣời dân nông thôn Việt Nam. Theo thời gian, các hoạt động sản xuất đơn lẻ dần dần gắn kết với nhau, hình thành nên các làng nghề, xóm nghề, trong đó có nhiều làng mang tính truyền thống, tồn tại lâu đời, trở thành một hình thức kết cấu kinh tế - xã hội của nông thôn. Bên cạnh sự đóng góp vào đời sống kinh tế, hoạt động sản xuất nghề còn giúp ngƣời dân gắn bó với nhau, tạo ra những truyền thống tốt đẹp trong đời sống văn hóa, tinh thần cho nông thôn Việt Nam.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, làng nghề nƣớc ta cũng đang có tốc độ phát triển mạnh thông qua sự tăng trƣởng về số lƣợng và chủng loại ngành nghề sản xuất mới. Nhiều làng nghề đã từng bị mai một trong thời kỳ bao cấp thì nay cũng đang dần đƣợc khôi phục và phát triển trở lại. Nhiều sản phẩm thủ công truyền thống của làng nghề có đƣợc vị thế trên thị trƣờng, đƣợc khách hàng trong và ngoài nƣớc ƣa chuộng. Tuy nhiên, có một thực tế là đã và đang có sự biến thái, pha tạp giữa làng nghề thực sự mang tính chất thủ công, truyền thống và làng nghề với sự phát triển công nghiệp nhỏ ở khu vực nông thôn, tạo nên một bức tranh hỗn độn của làng nghề Việt Nam.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tính đến 31/12/2014, cả nƣớc có 5.096 làng nghề và làng có nghề [21]. Số làng nghề đƣợc công nhận theo tiêu chí làng nghề hiện nay của Chính phủ là 1.748 thu hút khoảng 10 triệu lao động (trong đó riêng Hà Nội có 1.350 làng nghề và làng có nghề với 286 làng nghề đã đƣợc Ủy ban nhân dân thành phố công nhận là làng nghề truyền thống). Có nhiều làng tồn tại từ 500 đến 1.000 năm trở lại đây, đó là những làng nghề tiêu biểu, đƣợc cả nƣớc và thế giới biết đến nhƣ: Lụa Vạn Phúc, tranh Đông 6 Hồ, gốm sứ Bát Tràng, Chu Đậu, gốm Bầu Trúc, gỗ Sơn Đồng, Ý Yên, mây tre Phú Vinh, bạc mỹ nghệ Đồng Xâm…[21] b) Sự phân bố của các làng nghề ở Việt Nam Các làng nghề ở nƣớc ta chủ yếu tập trung tại những vùng nông thôn, vì vậy, khái niệm làng nghề luôn đƣợc gắn với nông thôn. Tuy nhiên, hiện nay do xu thế đô thị hóa, nhiều khu vực nông thôn đã trở thành đô thị, hoặc tập trung tại các khu vực dân cƣ đông đúc nhƣng vẫn duy trì nét sản xuất văn hóa truyền thống, chính điều này đã tạo ra nhiều vấn đề bất cập trong chính sách phát triển và hành lang pháp lý về quản lý làng nghề.
Trên bình diện cả nƣớc, làng nghề phân bố không đồng đều giữa các vùng, miền. Tính chất của làng nghề theo vùng, miền cũng không giống nhau. Làng nghề tập trung nhiều nhất ở miền Bắc, chiếm khoảng 60%, trong đó Đồng bằng sông Hồng chiếm khoảng 50%, chủ yếu tập trung tại các tỉnh Bắc Ninh, Hƣng Yên, Hà Nội, Thái Bình, Nam Định,…; ở miền Trung chiếm khoảng 23,6%, tập trung chủ yếu tại các tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên Huế…; miền Nam chiếm khoảng 16,4%, tập trung chủ yếu tại các tỉnh Đồng Nai, Bình Dƣơng, Cần Thơ…. [4] Về loại hình sản xuất cũng rất đa dạng, đƣợc phân thành 08 nhóm ngành nghề theo hình 1.1: Loại hình chế biến lương thực, thực Loại hình khác phẩm 25% 24% Loại hình dệt, nhuộm, thuộc da Loại hình tái chế 5% chất thải 1% Loại hình sản xuất vật liệu xây dựng 3% Loại hình gia công cơ kim khí Loại hình thủ công, 4% Loại hình chăn nuôi, mỹ nghệ giết mổ gia súc 37% 1% Hình 1.
Các nhóm ngành nghề của các làng nghề Việt Nam Nguồn: Báo cáo về việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề, Chính phủ, 2011 [4] 7 Tại các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng, với đặc điểm diện tích chật hẹp, mật độ dân cƣ cao, hoạt động sản xuất quy mô công nghiệp và bán công nghiệp gắn liền với sinh hoạt, nên các hậu quả của ô nhiễm môi trƣờng đang là vấn đề rõ rệt nhất. Trong khi đó, tại các tỉnh miền Trung và miền Nam, do phân bố các làng có nghề khá thƣa thớt, diện tích đất rộng, nên tuy vẫn nằm xen kẽ trong các khu dân cƣ nhƣng hậu quả môi trƣờng là chƣa đáng báo động. Hơn nữa, do đặc điểm phát triển nên tại các tỉnh miền Trung và miền Nam, làng nghề vẫn mang đậm nét thủ công truyền thống, tận dụng nhân công nhàn rỗi tại chỗ và nguyên vật liệu địa phƣơng, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cộng đồng dân cƣ quanh vùng, nên thực chất, phát triển làng nghề một cách có định hƣớng tại các khu vực này là hết sức cần thiết. c) Xu thế phát triển Số lƣợng các làng nghề ở các vùng nói chung có xu hƣớng tăng lên, chỉ có ngành khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng có xu thế giảm do chính sách của nhà nƣớc cũng nhƣ hậu quả của ô nhiễm môi trƣờng đến cộng đồng dân cƣ, và quan trọng hơn cả là chất lƣợng không cạnh tranh đƣợc với các sản phẩm sản xuất công nghiệp.
Tuy nhiên, tại khu vực Đồng bằng sông Hồng là nơi có số lƣợng làng nghề lớn nhất trên cả nƣớc thì số lƣợng vẫn tiếp tục tăng so với các khu vực khác nên khu vực này đƣợc coi là đại diện nhất của bức tranh về ô nhiễm môi trƣờng làng nghề Việt Nam. Trong khi đó, tại các vùng Đông Bắc và Tây Bắc số lƣợng có chiều hƣớng giảm dần trong những năm gần đây. Dự báo cho xu thế phát triển làng nghề đến năm 2015 đƣợc thể hiện trong bảng 1. Các xu thế phát triển chính của làng nghề Việt Nam.
Dệt Chế biến lƣơng Sản xuất vật nhuộm, thực, thực Tái chế Thủ công liệu xây Vùng kinh tế ƣơm tơ, phẩm, chăn phế liệu mỹ nghệ dựng, khai thuộc da nuôi, giết mổ thác đá Đồng bằng sông 2 1 2 2 -1 Hồng Đông Bắc 1 1 0 1 0 Tây Bắc 1 1 0 1 0 Bắc Trung Bộ 1 2 1 2 1 Nam Trung Bộ 2 2 1 2 1 Tây Nguyên 1 0 0 2 1 Đông Nam Bộ 1 1 1 2 -1 Đồng bằng sông 1 1 1 2 -1 Cửu Long Ghi chú: -1: suy thoái; 0: duy trì nhưng không phát triển; 1: phát triển vừa; 2: phát triển mạnh (Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 - Môi trường làng nghề Việt Nam) 1. Vai trò của các làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, vùng miền và cả nước Trong thời gian qua, các làng nghề truyền thống của Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng trong việc phát triển kinh tế, giải quyết công ăn việc làm và các vấn đề xã hội tại các vùng, miền, địa phƣơng có làng nghề: a) Vai trò của các làng nghề Việt Nam trong phát triển kinh tế và giải quyết lao động, việc làm: Sự phát triển sản xuất nghề trong những năm gần đây đã và đang góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn. Tại các làng có nghề, đại bộ phận ngƣời dân tham gia làm nghề thủ công nhƣng vẫn duy trì sản xuất nông nghiệp ở một mức độ nhất định. Kết quả thống kê tại nhiều làng có nghề, tỷ trọng 9 công nghiệp và dịch vụ đạt từ 60-80%; nông nghiệp chiếm khoảng 20 - 40%.
Số hộ sản xuất và cơ sở ngành nghề nông thôn đang ngày một tăng lên với tốc độ tăng bình quân từ 8,8 - 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu từ các sản phẩm làng nghề không ngừng gia tăng. Mức thu nhập của ngƣời lao động sản xuất nghề cao gấp 3 - 4 lần so với thu nhập của sản xuất thuần nông [4]. Hoạt động sản xuất nghề tại các khu vực nông thôn đã tạo ra việc làm cho hơn 11 triệu lao động, thu hút khoảng 30% lực lƣợng lao động nông thôn, đặc biệt có những địa phƣơng đã thu hút đƣợc hơn 60% nhân lực lao động của cả làng. Mức thu nhập từ sản xuất nghề cao hơn nhiều so với nguồn thu từ nông nghiệp, đặc biệt là đối với vùng đất chật ngƣời đông nhƣ đồng bằng sông Hồng.
Tại các làng nghề quy mô lớn, trung bình mỗi cơ sở, doanh nghiệp tƣ nhân tạo việc làm ổn định cho khoảng 30 lao động thƣờng xuyên và 8-10 lao động thời vụ; các hộ cá thể tạo việc làm cho 4-6 lao động thƣờng xuyên và 2-5 lao động thời vụ. Đặc biệt tại các làng nghề dệt, thêu ren, mây tre đan thì mỗi cơ sở, vào thời kỳ cao điểm, có thể thu hút 200-250 lao động. Bên cạnh những tích cực đã nêu ở trên, việc thu hút lao động ở những địa phƣơng khác tập trung vào các làng có nghề sẽ kéo theo những tác động tiêu cực đến xã hội và môi trƣờng khu vực nông thôn. Sự phát triển của làng nghề đã và đang đóng góp đáng kể vào GDP, góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Làng nghề truyền thống còn đƣợc xem nhƣ một nguồn tài nguyên văn hóa vật thể và phi vật thể đầy tiềm năng cho du lịch.